Hiển thị các bài đăng có nhãn NGOẠI KHOA. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn NGOẠI KHOA. Hiển thị tất cả bài đăng

Giới thiệu phẫu thuật cắt đầu tụy tá tràng

Phẫu thuật cắt đầu tụy tá tràng là một phẫu thuật lớn và phức tạp trong chuyên ngành tiêu hóa.
Sự phức tạp bởi giải phẫu định khu tại chỗ và kết hợp với  sự thâm nhiễm của tổ chức ung thư tới các tạng lân cận nhất là các bó mạch trong đó có bó mạch mạc treo tràng trên. Hơn nữa các miệng nối tụy-ruột, mật- ruột sau mổ có tỉ lệ tai biến  và  biến chứng cao (20-30 %) và tử vong sau mổ cao (5-7 %). Đặc biệt các  bệnh lý ung thư vùng đầu tụy sau phẫu thuật sống sau 5 năm còn thấp (10-15 %) nên khiến cho các phẫu thuật viên e ngại khi thực hiện loại phẫu thuật này.

Ca bệnh hi hữu, bệnh nhân bị mắc cùng một lúc hai loại bệnh ung thư

Vấn đề khó khăn cho công tác điều trị là bệnh nhân tuổi cao. Để điều trị cho bệnh nhân các bác sỹ đã phải kết hợp nhiều phương pháp: phẫu thuật, xạ trị , hoá chất và dùng I131. Trong khu vực phía Bắc, Bệnh viện Bạch Mai là đơn vị duy nhất có thể kết hợp cả hai phương pháp xạ trị và I-131.

Bệnh cảnh
Bệnh nhân Nguyễn Thị Tuấn Kh, nữ 71 tuổi, vào khám bệnh tại Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 2/2010 với triệu chứng ra máu âm đạo.

U máu ở trẻ em

U máu là khối u lành tính bẩm sinh phổ biến nhất ở trẻ em - đó là loại u lành tính của tế bào nội mạc lát thành mạch máu. Loại u này xuất hiện lúc mới sinh và có đặc tính phát triển rất nhanh ở trẻ nhũ nhi. Ngược lại, u dị dạng mạch máu cũng xuất hiện lúc mới sinh nhưng phát triển chậm hơn và tồn tại tới tuổi trưởng thành.

U máu có thể xuất hiện ở mọi nơi trên cơ thể như: da, đầu, mặt, cổ, mắt, vòm, miệng, họng, ngực, chân, tay, nội tạng như gan, thận… Chính vì thế bệnh nhân có thể tới khám ở các chuyên khoa khác nhau như da liễu, răng-hàm-mặt, tai-mũi-họng, ngoại khoa,…

Hẹp eo động mạch chủ

Hẹp eo động mạch chủ là một bệnh hiếm gặp, có tiên lượng tốt nếu được chẩn đoán và điều trị sớm. Tuy nhiên hiện nay nhiều bệnh nhân vẫn được chẩn đoán muộn.
 

Đặt vấn đề
Hẹp eo động mạch chủ là một bệnh hiếm gặp, có tiên lượng tốt nếu được chẩn đoán và điều trị sớm. Tuy nhiên hiện nay nhiều bệnh nhân vẫn được chẩn đoán muộn.
Mục đích của báo cáo này là nhằm thông báo 5 trường hợp hẹp eo động mạch chủ gặp trong thời gian gần đây nhằm rút ra một số kinh nghiệm để chẩn đoán sớm bệnh.
Các trường hợp bệnh án
Bệnh án 1
Bệnh nhân nam 3 tuổi, vào viện ngày 24/5/01 theo hẹn đến chuẩn bị mổ. Mã số bệnh án 201363. Bệnh nhân là con thứ nhất, cân nặng lúc đẻ 1,8kg. Từ lúc 6 tháng tuổi đến viện vì ỉa chảy. Nghe tim có tiếng thổi tâm thu ở khoảng liên sườn 2 bên trái, siêu âm tim phát hiện thấy hẹp eo động mạch chủ

HỘI CHỨNG NHIỄM KHUẨN TIẾT NIỆU

Hội chứng nhiễm khuẩn tiết niệu là một hội chứng gây nên do có sự xâm nhập vi khuẩn gây bệnh vào tổ chức của hệ thống thận-tiết niệu, kể từ vỏ thận cho đến lỗ đái bao gồm cả nhiễm khuẩn tuyến tiền liệt, mào tinh hoàn.
Biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng của hội chứng nhiễm khuẩn tiết niệu là :

Sỏi đường mật

 Chẩn đoán lâm sàng và hình ảnh
BS. Nguyễn Cao Cương
BV. Bình Dân
           
I. Đại cương
- Sỏi đường mật (SĐM) là nói đến sỏi của hệ thống dẫn mật trong và ngoài gan. Không kể đến sỏi túi mật.
- SĐM có thể được thành lập ngay trong hệ thống dẫn mật được gọi là SĐM tiên phát (primary biliary stones) hoặc sỏi từ túi mật di chuyển xuống đường mật chính được gọi là SĐM thứ phát (secondary biliary stones).
- SĐM được gọi tên dựa vào thành phần cấu tạo chính là cholesterol hay sắc tố mà có tên gọi là sỏi cholesterol hay sỏi sắc tố.
- SĐM có thể chưa có triệu chứng được phát hiện tình cờ khi làm siêu âm (SÂ) hay chụp CT-scan, hoặc SĐM gây nên bệnh cảnh nhiễm trùng đường mật (cholangitis).

Bạn biết gì về bệnh phình động mạch chủ


TS. BS. Nguyễn Hoài Nam
Đại học Y Dược TP. HCM
 
Ngày nọ ông Phạm Văn B., bỗng thấy đau nhiều ở bụng, hai chân lạnh và hơi tím, bệnh nhân (BN) mệt nhiều và được đưa vào bệnh viện khám. Người đầu tiên khám cho BN là một bác sĩ trẻ mới ra trường hai năm, anh phát hiện BN có cao huyết áp, vùng bụng dưới có một khối u căng và đập theo nhịp mạch. Một bác sĩ có kinh nghiệm hơn được mời đến, sau một loạt các xét nghiệm cận lâm sàng thông thường và với sự trợ giúp của siêu âm Doppler màu mạch máu, BN được chẩn đoán phình động mạch chủ bụng (PĐMCB) dưới thận dọa vỡ và chuyển len khoa chúng tôi ngay trong ngày hôm đó phẫu thuật cắt bỏ túi phình, ghép mạch máu bằng ống ghép nhân tạo Dacron và BN đã được cứu sống trong niềm vui của gia đình.

XU HƯỚNG ĐIỀU TRỊ ĐAU TRONG UNG THƯ

BS. Trần Chánh Khương
BV. Ung Bướu TP. HCM

I.        ĐẠI CƯƠNG
A.  Định nghĩa  
- Đau: Một triệu chứng rất thông thuờng, lý do để người bệnh tìm đến các cơ sở y tế. Cảm giác có tính chủ quan, phức tạp, đôi khi khó nhận định qua lời kể của người bệnh.
- Đau đớn là nỗi khiếp sợ của con người đôi khi còn hơn cả cái chết (Pain is a more terrible lord of mankind than even death itself) - Albert Schweitzer.

VIÊM ĐẠI TRÀNG MÃN

TS.BS. Đỗ Trọng Hải
Định nghĩa
Viêm đại tràng mãn là bệnh mãn tính ở đại tràng có thể do rất nhiều nguyên nhân khác nhau hoặc không rõ nguyên nhân.
1. Nhóm do nhiễm:
·      Nhiễm khuẩn: lao, lậu, Clostridium sp.
·      Nhiễm kí sinh trùng: lỵ amip, Giardia lamblia.
·      Nhiễm siêu vi: Cytomegalovirus. Herpes simplex…
·      Nhiễm nấm: Candida.
2. Nhóm không do nhiễm:
·      Viêm loét đại tràng vô căn.
·      Bệnh Crohn.
·      Do xạ trị vùng chậu.
·      Do thiếu máu.

Bệnh trĩ

BS. Dương Phước Hưng
Đại học Y Dược TP. HCM
1-Bệnh trĩ là gì?

Là bệnh được tạo thành do dãn quá mức các đám rối tĩnh mạch trĩ.
Là bệnh rất phổ biến, đứng hàng đầu trong các bệnh lý vùng hậu môn đến nhập viện.
Bệnh nhân mắc bệnh trĩ thường đi khám và điều trị rất muộn sau nhiều năm, vì bệnh tuy có ảnh hưởng tới cuộc sống nhưng không nặng nề nên bệnh nhân thường bỏ qua và vì bệnh ở vùng kín đáo nên bệnh nhân thường ngại ngùng nhất là phụ nữ.

2-Triệu chứng nào đưa bệnh nhân đến khám bệnh?

Có 2 triệu chứng chính đưa bệnh nhân đi khám bệnh là chảy máu và sa búi trĩ.
-Chảy máu là triệu chứng có sớm nhất và thường gặp nhất. Đây là một trong những lý do đưa bệnh nhân đến khám. Lúc đầu chảy máu rất kín đáo, tình cờ bệnh nhân phát hiện khi nhìn vào giấy chùi vệ sinh sau khi đi cầu hoặc nhìn vào phân thấy vài tia máu nhỏ dính vào thỏi phân rắn. Về sau mổi khi đi cầu phải rặn nhiều do táo bón thì máu chảy thành giọt hay thành tia. Muộn hơn nữa cứ mỗi lần đi cầu, mỗi lần đi lại nhiều, mỗi lần ngồi xổm máu lại chảy. có khi máu chảy rất nhiều bắt bệnh nhân phải vào cấp cứu. Đôi khi máu từ búi trĩ chảy ra đọng lại trong lòng trực tràng rồi sau đó mới đi cầu ra nhiều máu cục.
-Sa búi trĩ: thường xảy ra trễ hơn sau một thời gian đi cầu có chảy máu, lúc đầu sau mỗi khi đại tiện thấy có khối nhỏ lồi ra ở lỗ hậu môn, sau đó khối đó tự tụt vào được. Càng về sau khối lồi ra đó to lên dần và không tự tụt vào sau khi đi cầu nữa mà phải dùng tay nhét vào. Cuối cùng khối sa đó thường xuyên nằm ngoài hậu môn.
-Ngoài 2 triệu chứng chính trên, bệnh nhân có thể có kèm theo các triệu chứng khác như đau khi đi cầu, ngứa quanh lỗ hậu môn. Thông thường trĩ không gây đau, triệu chứng đau xảy ra khi có biếng chứng như tắc mạch, sa trĩ nghẹt hay do các bệnh khác ở vùng hậu môn như nứt hậu môn, áp xe cạnh hậu môn… Triệu chứng ngứa xảy ra do búi trĩ sa ra ngoài và tiết dịch gây viêm da quanh hậu môn làm cho bệnh nhân cảm thấy hậu môn lúc nào cũng có cảm giác ướt và ngứa.

3-Lầm lẫn bệnh trĩ với các bệnh khác?

Do triệu chứng chính thường dẫn bệnh nhân đến khám là chảy máu, sa trĩ và đau là các triệu chứng có thể gặp trong nhiều bệnh khác nên dễ lầm lẫn nếu không đi khám. Với triệu chứng chảy máu có bệnh ung thư hậu môn trực tràng cũng cho triệu chứng giống như vậy, nếu bệnh nhân cứ cho là mình bị bệnh trĩ không đi khám đến khi ung thư phát triển to thì không còn khả năng điều trị được. Ngoài ung thư, hậu môn trực tràng có bệnh cũng cho dấu hiệu chảy máu như vậy là polype trực tràng, đây là bệnh cần can thiệp cắt bỏ thì mới hết bệnh chứ không thể điều trị bằng thuốc. Búi trĩ sa ra ngoài thường lầm với sa trực tràng, hai bệnh có cách điều trị khác nhau.

4-Nguyên nhân và yếu tố thuận lợi gây bệnh trĩ?

Nguyên nhân của bệnh chưa được xác định rõ ràng và chắc chắn. Những yếu tố sau đây được coi như là những điều kiện thuận lợi cho bệnh phát sinh:
-Táo bón kinh niên: Những bệnh nhân này mỗi khi đi cầu rặn nhiều, khi rặn áp lực trong lòng ống hậu môn tăng lên gấp 10 lần. Táo bón lâu ngày làm xuất hiện các búi trĩ. Các búi trĩ dần dần to lên và khi to quá sẽ sa ra ngoài.
-Hội chứng lỵ: Những bệnh nhân bị bệnh lỵ mỗi ngày đại tiện nhiều lần và mỗi lần đại tiện phải rặn nhiều làm tăng áp lực trong ổ bụng.
-Tăng áp lực ổ bụng: Những bệnh nhân viêm phế quản mạn tính, những bệnh nhân dãn phế quản, phải ho nhiều, những người làm lao động nặng như khuân vác... làm tăng áp lực trong ổ bụng, dễ dàng cho bệnh trĩ xuất hiện.
-Tư thế đứng: khi nghiên cứu áp lực tĩnh mạch trĩ, người ta ghi nhận áp lực tĩnh mạch trĩ  là 25cm H2O ở tư thế nằm, tăng vọt lên 75cm H2O ở tư thế đứng. Vì vậy, tỉ lệ mắc bệnh trĩ ở người phải đứng lâu, ngồi nhiều, ít đi lại như thư ký bàn giấy, nhân viên bán hàng, thợ may v…v…
-U bướu hậu môn trực tràng và vùng chung quanh: như ung thư  trực tràng, u bướu vùng tiểu khung, thai nhiều tháng… khi to có thể chèn ép và cản trở đường về  tĩnh mạch hồi lưu làm cho các đám rối trĩ căng phồng lên tạo thành bệnh trĩ. Trong những trường hợp này, trĩ được tạo nên do những nguyên nhân cụ thể, rõ ràng nên được gọi là trĩ triệu chứng, khi điều trị ta phải điều trị nguyên nhân chứ không trị như bệnh trĩ.

5- Điều trị

Người ta chỉ điều trị khi trĩ gây những rối loạn ảnh hưởng đến sinh hoạt và năng suất lao động của người bệnh.

Ngăn chặn các yếu tố thuận lợi phát sinh bệnh trĩ:

- Tập thói quen đi cầu đều đặn hàng ngày.
- Điều chỉnh thói quen ăn uống:
Tránh các chất kích thích như cà phê, rượu, trà.
Tránh các thức ăn nhiều gia vị như ớt, tiêu.
Uống nước đầy đủ.
Ăn nhiều chất xơ.
-Vận động thể lực: nên tập thể dục và chơi các môn thể thao nhẹ như bơi lội, đi bộ…
-Điều trị các bệnh mãn tính hiện có như viêm phế quản, dãn phế quản, bệnh lỵ …

Điều trị nội khoa:

- Vệ sinh tại chỗ tốt bằng phương pháp ngâm nước ấm 2 – 3 lần/ngày, mỗi lần 15 phút.
- Thuốc uống: gồm các thuốc có tác nhân trợ tĩnh mạch, dẫn xuất từ flavonoid. Cơ chế tác động của các thuốc này là làm gia tăng trương lực tĩnh mạch, bảo vệ vi tuần hoàn, giảm phù nề nhờ tác động kháng viêm tại chỗ, chống nhiễm trùng và chống tắc mạch.
     - Thuốc tại chỗ: gồm các loại thuốc mỡ (pommade) và đạn dược (suppositoire) bao gồm các tác nhân kháng viêm, vô cảm tại chỗ và dẫn xuất trợ tĩnh mạch.
 
 Điều trị bằng thủ thuật:
 
1-Chích xơ:
      Là phương pháp dễ thực hiện, đơn giản, nhanh chóng và an toàn. Tuy nhiên, người thực hiện thủ thuật phải là bác sĩ  có kinh nghiệm với kỹ thuật vững vàng mới cho kết quả tốt và tránh được các biến chứng. Mục đích chính của chích xơ là giảm lưu lượng máu đến búi trĩ, tạo mô sẹo xơ dính vào lớp cơ dưới lớp dưới niêm mạc giúp giảm triệu chứng chảy máu.
Chích xơ được chỉ định trong trĩ độ 1 và trĩ độ 2,
Trong kỹ thuật chích xơ cần chú ý một số việc:
- Sử dụng đúng loại kim: Kim dài, có ngạnh chặn ở gần đầu kim để tránh xuyên thấu sâu, nếu có kim gập góc thì rất tốt, ống chích chuyên dùng. Thuốc chích xơ thường dùng hiện nay là dầu phenol 26 và polidocanol.
-Vị trí chích là ở gốc búi trĩ, nằm trên đường lược và ở đáy búi trĩ.  Khối lượng thuốc bơm khoảng 3-5 ml, bom chậm, trong lúc bom thuốc nếu thấy chỗ chích đổi màu trắng là  chích vào lớp thượng bì, ngừng chích ngay vì sẽ gây biến chứng loét hoại tử sau chích. Vị trí chích thông thường là ở 4giờ , 7giờ và 11giờ.
-Biến chứng:
*Chảy máu chỗ chích: nếu phát hiện trong lúc chích dùng gạc đè vào, nếu không giảm dùng dụng cụ thắt trĩ bằng vòng cao su thắt vùng chảy máu.
*Chích vào tuyến tiền liệt: trong trường hợp chích quá sâu ở vị trí 11giờ-1giờ có thể gặp biến chứng bí tiểu, viêm mào tinh và tinh hoàn, viêm tuyến tiền liệt, rò hậu môn âm đạo…

2-Thắt trĩ bằng vòng cao su:
Thắt trĩ bằng vòng cao su được chỉ định điều trị trĩ nội độ 1 và 2, một số tác giả áp dụng cho cả trĩ nội độ 3 nhưng kết quả giới hạn.
 Thắt trĩ bằng vòng cao su đã được thực hiện từ thế kỷ 19 nhưng vì cột búi trĩ chung với cả da quanh hậu môn nên sau thắt rất đau, cho nên không được sử dụng rộng rải. Đến năm 1958 Blaisdell đã thành công với việc chỉ cột búi trĩ không có lẫn da và các mô chung quanh. Barron 1963 đã tạo ra dụng cụ để thắt trĩ với vòng cao su và sau đó với dụng cụ cải tiến của Mc Giveny đã đưa điều trị thắt trĩ với vòng cao su thành một phương pháp điều trị trĩ thành công và được lựa chọn hàng đầu trong các phương pháp điều trị bằng thủ thuật.
Nguyên tắc chính của thắt vòng cao su là giảm lưu lượng máu đến búi trĩ, tạo mô sẹo xơ dính vào lớp cơ dưới lớp dưới niêm mạc, do đó sẽ cố định ống hậu môn đúng với nguyên tắc bảo tồn lớp đệm hậu môn.

3-Quang đông hồng ngoại:
  Phương thức sử dụng nhiệt điều trị trĩ đã được thực hiện hàng trăm năm nay. Mục tiêu của phương pháp làm đông là làm cho mô bị đông lại bởi tác động của sức nóng, tạo nên sẹo xơ làm giảm lưu lượng máu đến búi trĩ và cố định trĩ vào ống hậu môn. Với tia Laser, dòng điện cao tần cũng có tác động làm đông như tia hồng ngoại, nhưng sự chính xác về độ sâu xuyên thấu của tác động làm đông của 2 phương pháp này không chính xác bằng tia hồng ngoại với máy quang đông. Sự xuyên thấu mô của tia hồng ngoại được định trước bằng cách điều chỉnh tốc độ của tia và độ hội tụ chính xác trên lớp mô này. Máy quang đông hồng ngoại có lợi là không gây nhiễu các dụng cụ điện tử gắn trên người bệnh như máy điều hòa nhịp tim.
Quang đông hồng ngoại được chỉ định với trĩ nội độ 1 và độ 2. Phương pháp này có ưu điểm là không đau, an toàn, cầm máu rất hiệu quả nhưng có nhược điểm là máy khá đắt và thường phải làm thủ thuật nhiều lần.        

PHẪU THUẬT

Với các phát hiện về sinh bệnh học và giải phẫu học, từ thập niên 90 có các phương pháp phẫu thuật mới như khâu treo trĩ, phẫu thuật Longo, khâu cột động mạch trĩ dưới hướng dẫn của siêu âm Doppler. Các phương pháp phẫu thuật mới này dựa trên nguyên tắc bảo tồn lớp đệm hậu môn, giảm lưu lượng máu đến búi trĩ và cố định mô trĩ vào ống hậu môn. Với các phương pháp phẫu thuật sau này, vùng phẫu thuật nằm trên cột Morgagni, là vùng không có các tiếp nhận cảm giác, do đó khi phẫu thuật vùng này có lợi điểm là không đau.
  
Hình 1 : Vị trí phẫu trường của 2 nhóm phẫu thuật

1-Nhóm phẫu thuật 1: gồm 2 nhóm phẫu thuật
a-Phẫu thuật cắt khoanh niêm mạc:
Phẫu thuật Whitehead: nguyên tắc là cắt khoanh niêm mạc và lớp dưới niêm mạc có các búi tĩnh mạch trĩ, sau đó  kéo niêm mạc từ trên xuống khâu với da ở hậu môn. Phương pháp này hiện nay hầu như không được sử dụng vì để lại nhiều biến chứng nặng nề như hẹp hậu môn, đại tiện mất tự chủ và rỉ dịch ở hậu môn. Nhưng vì tính chất triệt để của phẫu thuật nên nhiều tác giả vẫn sử dụng nguyên tắc của phẫu thuật này nhưng cải biên lại để làm giảm các biến chứng, ví dụ phẫu thuật Toupet.

b-Phẫu thuật cắt từng búi trĩ:
Nguyên tắc phẫu thuật này là cắt riêng biệt từng búi trĩ một, để lại ở giữa các búi trĩ các mảnh da-niêm mạc (cầu da niêm mạc). Nhóm phẫu thuật này gồm có  PT Milligan Morgan (1937), PT Ferguson (1959), PT Parks (1965), PT BV Việt Đức (Nguyễn Đình Hối, 1966).
 Nhóm phẫu thuật này gồm2 nhóm chính là:
- Cắt trĩ mở: PT Milligan Morgan , PT Nguyễn Đình Hối 
- Cắt trĩ kín:  PT Ferguson.
Nhóm phẫu thuật này tránh được các biến chứng của nhóm phẫu thuật cắt khoanh niêm mạc da, nhưng vẫn còn nhược điểm là đau sau mổ, thời gian nằm viện dài, thời gian trở lại lao động muộn và không hiệu quả trong các trường hợp trĩ vòng.

2-Nhóm phẫu thuật 2:
Xuất phát từ các nhược điểm của nhóm phẫu thuật dưới cột Morgagni và các phát hiện mới về sinh bệnh học, từ thập niên 90, dựa trên nguyên tắc bảo tồn khối đệm hậu môn, giảm lưu lượng máu đến búi trĩ và thu nhỏ thể tích khối trĩ, một số phẫu thuật mới đã ra đời với nguyên tắc treo hậu môn như PT Longo, khâu treo trĩ bằng tay và nguyên tắc thu nhỏ thể tích khối trĩ như PT khâu cột động mạch trĩ dưới hướng dẫn của siêu âm Doppler.

a-PT Longo (1993) (hình 1):
Là phẫu thuật sử dụng máy khâu vòng để cắt một khoanh niêm mạc trên đường lược 2-3 cm và khâu vòng bằng máy bấm. Nguyên tắc của phẫu thuật này là cắt và khâu khoanh niêm mạc, nhằm mục đích giảm lưu lượng máu đến đám rối tĩnh mạch trĩ để thu nhỏ thể tích trĩ và treo được đệm hậu môn vào ống hậu môn. Phương pháp này được ưa chuộng vì không đau, thời gian nằm viện ngắn, trả bệnh nhân về lao động sớm, nhược điểm này là chi phí cao, chưa được đánh giá đầy đủ về hiệu quả do thời gian theo dõi còn ngắn 15.
 
  Hình 1: Phẫu thuật Longo

b-Khâu treo trĩ bằng tay:
Đây là phương pháp cải biên của phẫu thuật Longo ở các nước đang phát triển do giá thành cao của PT Longo . PT này đã được Ahmed M Hussein, Nguyễn Mạnh Nhâm, Nguyễn Trung Vinh, Nguyễn Trung Tín báo cáo ở các hội nghị. Phương pháp này cũng dựa trên nguyên tắc của phẫu thuật Longo là làm giảm lưu lượng máu đến búi trĩ để thu nhỏ thể tích khối trĩ và treo búi trĩ  lên ống hậu môn bằng các mũi khâu tay khâu xếp nếp niêm mạc trên đường lược 2-3 cm. Phương pháp này chỉ mới được báo cáo sau năm 2001.

c-Khâu cột động mạch trĩ dưới hướng dẫn của siêu âm Doppler (hình 2):
Hình 2: Máy Moricorn và ống soi hậu môn có đầu dò siêu âm Doppler

Phương pháp này được Kazumasa Morinaga thực hiện lần đầu  năm 1995, với một dụng cụ có tên là Moricorn, là một máy gồm một đầu dò siêu âm Doppler gắn liền trong một ống soi hậu môn, qua dụng cụ này tác giả dò tìm 6 động mạch, là những nhánh tận của động mạch trực tràng trên, và các nhánh động mạch này được khâu cột ở vị trí trên đường lược 2cm.
Nguyên tắc của phương pháp này là làm giảm lưu lượng máu đến các búi trĩ, chỉ áp dụng cho trĩ nội độ 2 và 3, ưu điểm của phương pháp này là không đau và bảo tồn được đệm hậu môn.
Cả ba phương pháp này không giải quyết được các trường hợp trĩ nội tắc mạch và các trường hợp có mẫu da thừa lớn.
Text Box:  
 
Chỉ định điều trị:
 
-Trĩ có thể là bệnh, có thể là triệu chứng của một bệnh khác. Chỉ được phẫu thuật khi là trĩ bệnh . Một sai lầm thường mắc phải là cắt trĩ cho một bệnh nhân bị ung thư trực tràng. Có thể trĩ là triệu chứng của ung thư trực tràng, có thể là ung thư trực tràng xuất hiện trên một bệnh nhân có trĩ đã lâu. Vì vậy, trước khi mổ phải khẳng định không có các thương tổn thực thể khác ở vùng hậu môn trực tràng.
 
-Trĩ có thể điều trị khỏi bằng nội khoa hay các phương pháp vật lý. Vì vậy, phẫu thuật chỉ nên được xem là phương sách cuối cùng khi các phương pháp kể trên không hiệu quả, bởi vì phẫu thuật can thiệp vào giải phẫu học và sinh lý học bình thường và có thể kèm theo các di chứng nặng nề khó sửa chữa.
 
-Chỉ định mổ áp dụng cho trĩ nội độ 3, độ 4, trĩ có huyết khối, trĩ vòng sa và trĩ xuất huyết trầm trọng.
 
-Trĩ ngoại: Trĩ ngoại không có chỉ định điều trị thủ thuật và phẫu thuật trừ khi có biến chứng nhiễm trùng, lở loét hay tắc mạch tạo thành những cục máu đông nằm trong các búi trĩ. Phẫu thuật điều trị tắc mạch trong cấp cứu là rạch lấy cục máu đông. Ngay sau mổ bệnh nhân cảm thấy dễ chịu và hết đau ngay.

-Trĩ nội:
- Độ 1: chích xơ hoặc làm đông bằng nhiệt.
- Độ 2: làm đông bằng nhiệt, thắt bằng dây thun hay cắt trĩ.
- Độ 3: thắt bằng dây thun hay cắt trĩ.
- Độ 4: cắt trĩ.
- Trĩ sa nghẹt: dùng thuốc điều trị nội khoa và ngâm nước ấm cho đến khi búi trĩ hết phù nề, tại chỗ ổn định, sau đó mới mổ cắt trĩ.


 

DẤU HIỆU SINH HỌC UNG THƯ

TS. BS. Vũ Văn Vũ 
Bệnh Viện Ung Bướu TP. HCM

I.DẤU HIỆU SINH HỌC UNG THƯ LÀ GÌ?
Các dấu hiệu sinh học ung thư là các chất sinh học có thể tìm thấy được khi cơ thể mắc ung thư. Các dấu hiệu sinh học có thể được trực tiếp tạo ra từ các tế bào ung thư hoặc do cơ thể phản ứng lại ung thư hay các tình trạng khác. Các dấu hiệu sinh học thường được phát hiệu trong máu hoặc nước tiểu nhưng cũng có thể được tìm thấy ở khối bướu và các mô khác. Phần nhiều các dấu hiệu sinh học có bản chất hóa học là prôtêin.
Hiện có rất nhiều các dấu hiệu sinh học ung thư khác nhau. Một số dấu hiệu sinh học chỉ hiện diện đặc thù trên một loại ung thư nào đó, nhưng nhiều dấu hiệu sinh học khác có thể tìm thấy ở nhiều loại ung thư khác nhau.
Thế nào là "gai" cột sống?
Khi khối thoát vị lồi ra, sẽ kéo theo màng xương cạnh nó và lâu ngày xương sẽ mọc ra theo, tạo thành những vành xương mà trên phim X-quang ta nhìn thấy như những cái gai nên gọi là "gai" cột sống. Nếu khối thoát vị đĩa đệm gây đau tê hay yếu liệt, khi đi khám bệnh, các bác sĩ sẽ giải quyết nó trước khi "gai" hình thành. Các khối thoát vị không gây triệu chứng gì (thường thì do chúng không gây chèn ép vào thần kinh) nên mới có đủ thời gian để tạo ra những cái "gai". Vì vậy bạn chớ vội lo sợ khi biết mình có "gai" cột sống. Chỉ có rất ít những "gai" cần phải "nhổ" bỏ. Ngoài ra, mấu gai là tên gọi một bộ phận của cột sống, không liên quan gì đến loại "gai" mà chúng ta đang nói đến.

Cập Nhật về Xử Trí Thoát Vị Đĩa Đệm Cột Sống Thắt Lưng Cấp


Đau thắt lưng là rối loạn về cơ xương thường gặp nhất và là lý do đi khám bệnh đứng hàng thứ nhì chỉ sau chứng cảm cúm. Đau thắt lưng là nguyên nhân đứng hàng thứ 2 khiến người lao động phải xin nghỉ việc và là nguyên nhân hàng đầu gây tàn tật ở người dưới 45 tuổi.

Cứ 5 người thì có 4 sẽ cảm nhận đau thắt lưng trong đời mình. Các tác nhân gây nguy cơ đau thắt lưng bao gồm nghiện thuốc lá, tư thế, di truyền, hình dáng cơ thể và điều kiện làm việc…
Đối với bệnh nhân bỏng, đặc biệt bỏng nặng, phải tháo cụt chi, hay bị sẹo lồi, sẹo phì đại... thì nỗi đau về thể xác chỉ chiếm một phần nhỏ trong sự tổn thương về tâm hồn và tinh thần. Giúp họ vượt qua thời kỳ khủng hoảng, thích nghi với tổn thương mới trên cơ thể và góp phần đưa họ trở về với cuộc sống là công việc mà các thầy thuốc chuyên ngành phục hồi chức năng đang thực hiện.
Đối tượng nào được thực hiện phục hồi chức năng trong bỏng?
BS. Nguyễn Mạnh Hùng - Chủ nhiệm Khoa Vật lý trị liệu - Phục hồi chức năng - Viện Bỏng Quốc gia nhấn mạnh, trong điều trị bỏng, phục hồi chức năng được thực hiện với tất cả các bệnh nhân bỏng, với các diện tích bỏng khác nhau. Có những trường hợp bỏng chỉ ở ngón 3, ngón 4 trên bàn tay bị sẹo co kéo, ngón tay gấp vào trong. Nếu được điều trị phục hồi chức năng sớm thì có thể khôi phục được chức năng của ngón tay và bàn tay này. Tuy nhiên, nếu không được thực hiện phục hồi chức năng thì ngón tay sẽ bị co kéo và không khôi phục được chức năng vốn có của nó. Đối với các trường hợp nặng hơn như bỏng diện rộng, bỏng sâu, đặc biệt là bỏng ở đầu, mặt, cổ, ở chi thể... thì phục hồi chức năng lại càng cần thiết bởi nếu không được thực hiện, sẹo có thể bị phì đại, trở thành sẹo co kéo, sẹo xấu gây mất thẩm mỹ và mất chức năng do cơ bị teo và cứng khớp.
Biện pháp phục hồi chức năng trong bỏng là gì?
BS. Nguyễn Mạnh Hùng cho biết, trong lĩnh vực phục hồi chức năng, hỗ trợ điều trị cho bệnh nhân bỏng có rất nhiều phương pháp. Tùy thuộc vào tình trạng tổn thương của bệnh nhân mà có những phương pháp điều trị thích hợp nhằm đạt hiệu quả cao nhất.
Đối với sẹo vùng mặt: Có thể sử dụng băng thun trong điều kiện sẹo mới, có thể sử dụng tia hồng ngoại, phương pháp paraphin, chườm nóng, làm mềm sẹo, cũng có thể sử dụng phương pháp siêu âm, sử dụng thuốc làm giảm co cứng sẹo, giảm phù nề và sẹo co kéo. Đối với sẹo ở tai có thể điều trị bằng phương pháp laser. Đối với sẹo ở mắt, nếu chưa mổ được thì sử dụng thuốc chống viêm kết giác mạc để mổ tạo hình, hay nếu sẹo ở cổ có thể sử dụng nẹp cổ để cố định, người bệnh phải hạn chế há miệng, mũi, mắt để sẹo không bị co kéo đồng thời được dán silicon.
Đối với các sẹo ngứa: Có thể do cơ địa, do sẹo bị co kéo gây rối loạn cảm giác, sẹo thiếu dinh dưỡng, tuần hoàn lại tiếp xúc với môi trường bên ngoài dễ gây hiện tượng viêm da, phải sử dụng thuốc giảm ngứa. Bên cạnh đó, sẹo ngứa cũng có thể do việc sử dụng băng thun, băng cao su không được vệ sinh tốt nên biện pháp khắc phục là vệ sinh nẹp, băng thun sạch sẽ kết hợp với điều trị bằng thuốc chống viêm da.
Đối với sẹo phì đại: Người bệnh sẽ được phẫu thuật tạo hình kết hợp với đặt nẹp, băng thun và tập vận động. Nếu sẹo phì đại ở mặt, cổ cần được dán silicon, ở ngón tay được băng coban nhằm chống dính các ngón, khi tập gấp duỗi ngón tay sẽ được tháo băng nhưng khi tập xong phải băng lại ngay.
Đối với sẹo lồi: Có thể không do bỏng, được sử dụng một số biện pháp như siêu âm, sử dụng tia hồng ngoại, chườm nóng, xoa day sẹo làm cho sẹo mềm mại, đỡ đau, ngứa...
Đối với sẹo co kéo: Người bệnh có cảm giác đau đớn, khó thực hiện các hoạt động bình thường do đó xoa day sẹo kết hợp với băng thun, tập vận động chủ động và thụ động là biện pháp hết sức cần thiết nhằm giảm sự đau đớn và hỗ trợ vận động cho người bệnh.
Những bệnh nhân bị bỏng vùng ngực, nhất là bỏng diện rộng thường bị sẹo co kéo, gây cản trở hô hấp cần được tập thở, tập ho, khạc nhằm cải thiện chức năng hô hấp. Với người bệnh bỏng vùng bụng, sẹo làm giảm nhu động ruột thì biện pháp chủ yếu là xoa bóp khu đại tràng giúp người bệnh đại tiểu tiện dễ dàng.
Đối với người bệnh bị tháo khớp hay cắt cụt chi thì quá trình chăm sóc mỏm cụt là một vấn đề rất được quan tâm vì nếu không được chăm sóc tốt bằng xoa bóp, băng thun sẽ làm cho vết sẹo lâu lành, mỏm cụt bị biến dạng, hình thành sẹo lồi, sẹo co kéo, gây ra tình trạng rối loạn cảm giác như đau nhức mỏm cụt, không những thế, việc chăm sóc không tốt còn khiến cho mỏm cụt không thon chắc, khó khăn cho quá trình lắp chi giả. Khi đó, người bệnh phải chịu thêm sự đau đớn và tốn kém thời gian để chỉnh sửa lại mỏm cụt bảo đảm sẹo được mềm mại, không lồi, không dày dính, thon chắc tạo điều kiện cho chi giả được lắp dễ dàng. Trong thời gian tới, Viện Bỏng Quốc gia sẽ đầu tư, nâng cấp trang thiết bị cho bệnh nhân phục hồi chức năng với dàn tập đa năng, bàn tập 5 khúc giúp người bệnh tập cổ, chi thể, vai, chân, lưng cùng hệ thống ròng rọc kéo và bài tập tổng hợp giúp người bệnh khôi phục tối đa chức năng của chi thể. Bên cạnh đó, bộ thước đo khớp, đặc biệt với các khớp nhỏ như khớp bàn ngón tay, bàn ngón chân sẽ giúp người bệnh nhận thấy được hiệu quả của các phương pháp phục hồi chức năng và có thêm quyết tâm để luyện tập.
Lời khuyên với người bệnh phục hồi chức năng
Khi thực hiện phục hồi chức năng phải theo quy trình nhất định, khi người bệnh  luyện tập xong phải được băng thun, đặt nẹp cố định để sẹo không bị co kéo, không bị phì đại bởi đặc tính của da là sự đàn hồi cao, nếu không được cố định, phần da bị sẹo đã được luyện tập lại trở về vị trí ban đầu. Không chỉ thế, quá trình luyện tập phục hồi không những được thực hiện ở bệnh viện mà còn được tiếp tục thực hiện tại gia đình nhưng người bệnh phải tuân thủ tuyệt đối chỉ định của thầy thuốc và tái khám theo định kỳ, đặc biệt khi có biểu hiện bất thường như trật khớp, sẹo co kéo mạnh..., gia đình cần đưa người bệnh đến khám lại ngay phòng tránh biến chứng có thể xảy ra.
LTT – Ban CNTT (Theo SKĐS)