Có rất nhiều người trong xã hội nghĩ rằng học y vừa nhàn, vừa dễ xin việc, vừa dễ kiếm tiền. Nhưng bất kỳ ai khi đi trên con đường y khoa thì đều hiểu rằng đó là con đường vô cùng gian nan vất vả.
Tôi nghĩ có rất nhiều hy sinh mất mát của đội ngũ y bác sĩ vẫn chưa được xã hội nhìn nhận một cách đúng đắn, đánh giá một cách khách quan những đóng góp của ngành y tế đối với xã hội. Và tôi với vai trò một người đang đi trên con đường này muốn có đôi lời tâm sự với các bạn.
Ngay từ khi quyết định chọn nghề y bạn đã phải đối diện với khó khăn rất lớn, điểm trúng tuyển của các trường đại học y luôn thuộc hàng "top ten", thời gian học đại học lâu nhất 6 năm, thời gian học nhiều nhất: sáng đi lâm sàng, chiều học lý thuyết, tối đi trực; thứ 7, chủ nhật trực 24/24.
Lượng kiến thức nhiều nhất trên gần 100 môn và gần 200 lần thi (thi thực hành và lý thuyết riêng), có những môn phải thi 12 lần (nội, ngoại). Sau 6 năm vất vả bạn sẽ có bằng bác sĩ đa khoa.
Chặng tiếp theo là xin việc, để có một công việc tốt phù hợp với nguyện vọng là điều vô cùng khó khăn. Khi xin vào những bệnh viện lớn thì chúng ta cần rất nhiều thứ: kiến thức, mối quan hệ... Khi có việc làm bạn sẽ lao vào kiếm tiền thật nhanh để bù đắp những năm tháng khó khăn? Không nhanh thế đâu. Ra trường lương khởi điểm 1 triệu 3 thậm chí là thử việc không lương.
Vào nhà nước khó khăn thế sao không chọn ra ngoài làm tư? Xin thưa rằng chẳng ai muốn thuê một bác sĩ mới ra trường không có kinh nghiệm, không có uy tín. Vậy muốn kiếm tiền phải làm gì đây? Phải đi học tiếp thôi. Lại nộp đơn học chuyên khoa định hướng trong tháng. Ra trường đi làm rồi lại phải xin tiền mẹ, học xong 9 tháng có bằng định hướng chắc kiếm tiền được rồi.
Không đâu, đấy chỉ là những kiến thức bước đầu sơ bộ về chuyên ngành của bạn, muốn làm được thì ít ra cũng phải học chuyên khoa cấp I, hay thạc sĩ. Nhưng muốn học bạn ít nhất phải có 2 năm kinh nghiêm, sau đó lại thi rồi nếu đỗ lại học tiếp 2 năm nữa và lại phải tốn không biết bao tiền của và công sức nữa đây? Vậy là bạn mất bao nhiêu năm và bao nhiêu tiền rồi?
Trên đây tôi mới kể quãng thời gian tối thiểu thôi, vì không phải ai cũng có điều kiện để đi học luôn như thế đâu. Học thế chắc là xong rồi nhỉ? Chưa hết đâu, bạn lại đi làm khoảng 5 năm nữa, rồi thi chuyên khoa cấp II, hoặc tiến sĩ, lại học 3 năm nữa. Như vậy là bạn học trong bao lâu rồi? Phải chăng suốt đời bạn chỉ có học và thi.
Đấy mới là học thôi, còn làm việc nữa, phải kiếm tiền lấy vợ, sinh con, phụng dưỡng mẹ cha, để có tiền đi học tiếp. Mình học nhiều thế chắc lương cao lắm? Mới ra trường 1 triệu 3, học xong định hướng về đi làm được khoảng 2 triệu.
Sau đó như bất kỳ công chức nào 3 năm lên lương một lần nhưng cường độ làm việc thì cao hơn nhiều, trực 24/24 hôm sau làm việc bình thường, rất ít bệnh viện được nghỉ bù. Trực một ngày ở tuyến xã 20 nghìn, tuyến trung ương 70 đến 100 nghìn. Với tình hình giá cả hiện nay tiền trực có đủ tiền ăn không?
Học mất nhiều tiền thế mỗi lần khám bệnh được bao nhiêu? Xin trả lời bạn ngay là 3nghìn/lần khám, vậy là nhiều rồi phải không? Nhưng bạn có được nhận 3 nghìn đó đâu, người ta nộp cho bệnh viện mà chia ra không biết bạn được bao nhiêu nữa, mình không dám tính.
Mình là bác sĩ ngoại, mọi người ai cũng nghĩ mổ xẻ lắm tiền, nhưng mổ đại phẫu thì cũng chỉ được 75 đến 100 nghìn thôi. Có bằng một lần bạn đi cắt tóc không?
Còn rất nhiều điều mình muốn tâm sự với các bạn nhưng đêm đã khuya, mình phải ngủ để mai còn đi làm. Hy vọng các bạn sẽ đóng góp ý kiến cho những tâm sự của mình. Một điều nữa mình muốn nói với các bạn: “dù khó khăn, vất vả đến mấy, chúng ta hãy luôn cố gắng làm việc thật tốt, tất cả là vì sức khỏe nhân dân.
Chúc các bạn đồng nghiệp sớm gặt hái thành công.
Nguồn Vnexpress
Chào mừng đến với blog của lớp K36B : Vì một cộng đồng y khoa phát triển
Hiển thị các bài đăng có nhãn Y ĐỨC. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Y ĐỨC. Hiển thị tất cả bài đăng
Sai Sót Trong Phẫu Thuật ở Mỹ mỗi năm gây tốn kém khoảng 1,5 tỉ USD
Một phân tích của cơ quan Nghiên Cứu Chăm Sóc Y Tế và Chất Lượng Mỹ (US Agency for Healthcare Research and Quality=AHRQ) cho thấy giới chủ các cơ sở y tế đã phải chi trả 1,47 tỉ USD mỗi năm để bù đắp cho những phí tổn phát sinh do những tai biến y khoa có thể phòng ngừa được trên bệnh nhân phẫu thuật.
Theo báo cáo đang tải trên tạp chí Nghiên Cứu về Dịch Vụ Y Tế (Health Services Research) số 28 Tháng 7-2008, Tiến sĩ William E. Encinosa và Tiến sĩ Fred J. Hellinger của AHRQ ước lượng các chi phí do sai sót phẫu thuật bằng cách phân tích dữ liệu trên một mẫu toàn quốc gồm 161.000 người lớn được phẫu thuật trong 2 năm 2001 và 2002.
Các nhà nghiên cứu đã xem xét 14 sai sót có thể phòng tránh được, chia làm 7 nhóm, bao gồm các vấn đề về kỹ thuật, nhiễm trùng, phổi và mạch máu, suy hô hấp cấp, các vấn đề về chuyển hoá, vết thương, và các biến cố nhạy cảm trong khâu điều dưỡng.
Các kết quả cho thấy suy hô hấp và nhiễm trùng là 2 tai biến đặc biệt tốn kém nhất. Các công ty bảo hiểm đã phải chi trả thêm lần lượt là 28.218 USD và 19.480 cho mỗi bệnh nhân phẫu thuật bị biến chứng suy hô hấp hoặc nhiễm trùng, so với bệnh nhân phẫu thuật không tai biến. Các chi phí vượt trội thêm khác cho mỗi bệnh nhân phẫu thuật bao gồm: 12.196 cho các biến cố về điều dưỡng, 11.797 cho các vấn đề về chuyển hoá, 7838 USD cho các vấn đề về phổi và mạch máu, và 1426 USD cho các vấn đề về vết thương.
Các kết quả còn cho thấy khoảng 1 trong 10 trường hợp tử vong xảy ra trong vòng 90 ngày sau phẫu thuật có nguồn gốc từ một sai sót có thể phòng ngừa được, và khoảng 1 trong 3 trường hợp tử vong xảy ra sau lần xuất viện đầu tiên.
Một phân tích của cơ quan Nghiên Cứu Chăm Sóc Y Tế và Chất Lượng Mỹ (US Agency for Healthcare Research and Quality=AHRQ) cho thấy giới chủ các cơ sở y tế đã phải chi trả 1,47 tỉ USD mỗi năm để bù đắp cho những phí tổn phát sinh do những tai biến y khoa có thể phòng ngừa được trên bệnh nhân phẫu thuật.
Theo báo cáo đang tải trên tạp chí Nghiên Cứu về Dịch Vụ Y Tế (Health Services Research) số 28 Tháng 7-2008, Tiến sĩ William E. Encinosa và Tiến sĩ Fred J. Hellinger của AHRQ ước lượng các chi phí do sai sót phẫu thuật bằng cách phân tích dữ liệu trên một mẫu toàn quốc gồm 161.000 người lớn được phẫu thuật trong 2 năm 2001 và 2002.
Các nhà nghiên cứu đã xem xét 14 sai sót có thể phòng tránh được, chia làm 7 nhóm, bao gồm các vấn đề về kỹ thuật, nhiễm trùng, phổi và mạch máu, suy hô hấp cấp, các vấn đề về chuyển hoá, vết thương, và các biến cố nhạy cảm trong khâu điều dưỡng.
Các kết quả cho thấy suy hô hấp và nhiễm trùng là 2 tai biến đặc biệt tốn kém nhất. Các công ty bảo hiểm đã phải chi trả thêm lần lượt là 28.218 USD và 19.480 cho mỗi bệnh nhân phẫu thuật bị biến chứng suy hô hấp hoặc nhiễm trùng, so với bệnh nhân phẫu thuật không tai biến. Các chi phí vượt trội thêm khác cho mỗi bệnh nhân phẫu thuật bao gồm: 12.196 cho các biến cố về điều dưỡng, 11.797 cho các vấn đề về chuyển hoá, 7838 USD cho các vấn đề về phổi và mạch máu, và 1426 USD cho các vấn đề về vết thương.
Các kết quả còn cho thấy khoảng 1 trong 10 trường hợp tử vong xảy ra trong vòng 90 ngày sau phẫu thuật có nguồn gốc từ một sai sót có thể phòng ngừa được, và khoảng 1 trong 3 trường hợp tử vong xảy ra sau lần xuất viện đầu tiên.
KHÁT VỌNG
Hãy sống như đời sông , để biết yêu nguồn cội
Hãy sống như đời núi vươn tới những tầm cao
Hãy sống như biển trào để thấy bờ bến rộng
Hãy sống và ước vọng để thấy đời mênh mông
Và sao không là gió là mây để thấy trời bao la
Và sao không là phù sa dâng mỡ màu cho hoa
Sao không là bài ca của tình yêu đôi lứa
Sao không là mặt trời gieo hạt nắng vô tư
Và sao không là bão là giông là ánh lửa đêm đông
Và sao không là hạt giống xanh đất mẹ bao dung
Sao không là đàn chim gọi bình minh thức giấc
Sao không là mặt trời gieo hạt nắng vô tư...
Hãy sống như đời núi vươn tới những tầm cao
Hãy sống như biển trào để thấy bờ bến rộng
Hãy sống và ước vọng để thấy đời mênh mông
Và sao không là gió là mây để thấy trời bao la
Và sao không là phù sa dâng mỡ màu cho hoa
Sao không là bài ca của tình yêu đôi lứa
Sao không là mặt trời gieo hạt nắng vô tư
Và sao không là bão là giông là ánh lửa đêm đông
Và sao không là hạt giống xanh đất mẹ bao dung
Sao không là đàn chim gọi bình minh thức giấc
Sao không là mặt trời gieo hạt nắng vô tư...
Chẩn Đoán
Người thầy thuốc cần phải tìm ra chẩn đoán với sự cẩn trọng cao nhất, phải dành đủ thời gian cần thiết cho chẩn đoán, phải tìm sự trợ giúp trong tất cả mọi biện pháp khoa học có thể có được, và nếu cần thiết, phải mời sự hợp tác hội chẩn thích hợp.
Tiến hành chẩn đoán là giai đoạn đầu tiên trong quá trình chăm sóc một bệnh nhân.
Một số những nhận xét đầu tiên, nếu được ghi nhận cẩn thận, cũng có thể giúp xác định hoặc định hướng thầy thuốc đến chẩn đoán nguyên nhân.
Do đó, đây là một khoảng thời gian quan trọng, đòi hỏi sự làm việc có chất lượng của thầy thuốc cùng những người cộng sự.
Người thầy thuốc cần phải tìm ra chẩn đoán với sự cẩn trọng cao nhất, phải dành đủ thời gian cần thiết cho chẩn đoán, phải tìm sự trợ giúp trong tất cả mọi biện pháp khoa học có thể có được, và nếu cần thiết, phải mời sự hợp tác hội chẩn thích hợp.
Tiến hành chẩn đoán là giai đoạn đầu tiên trong quá trình chăm sóc một bệnh nhân.
Một số những nhận xét đầu tiên, nếu được ghi nhận cẩn thận, cũng có thể giúp xác định hoặc định hướng thầy thuốc đến chẩn đoán nguyên nhân.
Do đó, đây là một khoảng thời gian quan trọng, đòi hỏi sự làm việc có chất lượng của thầy thuốc cùng những người cộng sự.
Động Tác Sờ Chạm Bệnh Nhân Của Người Thầy Thuốc
Động tác sờ chạm của Thầy Thuốc
(A Doctor's Touch)

Chú thích hình:
Y Khoa vào Thế Kỷ thứ 19th: Động Tác Sờ Chạm của Thầy Thuốc (The Touch)
Hình cổ điển mô tả thầy thuốc khám lâm sàng cho một bệnh nhân nữ. Nhiều sách y khoa thế kỷ thứ 19 sử dụng bức hình này để mô tả cách thức thăm khám đúng đắn một bệnh nhân nữ. Mắt thầy thuốc phải nhìn đi hướng khác để không làm cho bệnh nhân phải e thẹn, ngại ngùng.
(A Doctor's Touch)
Chú thích hình:
Y Khoa vào Thế Kỷ thứ 19th: Động Tác Sờ Chạm của Thầy Thuốc (The Touch)
Hình cổ điển mô tả thầy thuốc khám lâm sàng cho một bệnh nhân nữ. Nhiều sách y khoa thế kỷ thứ 19 sử dụng bức hình này để mô tả cách thức thăm khám đúng đắn một bệnh nhân nữ. Mắt thầy thuốc phải nhìn đi hướng khác để không làm cho bệnh nhân phải e thẹn, ngại ngùng.
Những lời răn của Hải Thượng Lãn Ông
"Đạo làm thuốc là một nhân thuật chuyên bảo vệ sinh mạng con người, phải lo cái lo của người, vui cái vui của người, chỉ lấy việc cứu sống mạng người làm nhiệm vụ của mình không nên cầu lợi kể công...
"Thường thấy kẻ làm thuốc, hoặc nhân bệnh cha mẹ người ta ngặt nghèo, hoặc bắt bí người ta lúc đêm tối, trời mưa, có bệnh nguy cấp; bệnh dễ chữa bảo là khó chữa, bệnh khó chữa bảo là không chữa được, giở lối quỉ quyệt ấy nhằm thoả mãn yêu cầu, rắp tâm như thế là bất lương. Chữa cho nhà giàu sang, thì tỏ tính sốt sắng, mong được lợi nhiều, chữa cho nhà nghèo hèn thì ra ý lạnh nhạt, sống chết mặc bay. Than ôi, đem nhân thuật làm chước dối lừa, đem lòng nhân đổi ra lòng buôn bán. Như thế thì người sống trách móc, người chết oán hờn không thể tha thứ được...
"Nghề làm thuốc là nhân thuật, thầy thuốc hẳn phải lấy việc giúp người làm điều hay. Cứu được một người thì khoa chân, múa tay cho mọi người biết) nhỡ có thất bại thì giấu đi. Thường người ta hay giấu các điều xấu của mình mà không đem sự thực nói với người khác. Riêng tôi dám nói là thoát khỏi những thói đó chăng, là vì tôi không theo con đường khoa cử nối dõi nghiệp nhà, chuyển hướng ra làm thuốc nên chỉ muốn hết sức làm những việc đáng làm, may ra khỏi hổ thẹn với đất trời, đâu dám e ngại sự chê khen, để phải hối hận với bổn phận...
"Thường thấy kẻ làm thuốc, hoặc nhân bệnh cha mẹ người ta ngặt nghèo, hoặc bắt bí người ta lúc đêm tối, trời mưa, có bệnh nguy cấp; bệnh dễ chữa bảo là khó chữa, bệnh khó chữa bảo là không chữa được, giở lối quỉ quyệt ấy nhằm thoả mãn yêu cầu, rắp tâm như thế là bất lương. Chữa cho nhà giàu sang, thì tỏ tính sốt sắng, mong được lợi nhiều, chữa cho nhà nghèo hèn thì ra ý lạnh nhạt, sống chết mặc bay. Than ôi, đem nhân thuật làm chước dối lừa, đem lòng nhân đổi ra lòng buôn bán. Như thế thì người sống trách móc, người chết oán hờn không thể tha thứ được...
"Nghề làm thuốc là nhân thuật, thầy thuốc hẳn phải lấy việc giúp người làm điều hay. Cứu được một người thì khoa chân, múa tay cho mọi người biết) nhỡ có thất bại thì giấu đi. Thường người ta hay giấu các điều xấu của mình mà không đem sự thực nói với người khác. Riêng tôi dám nói là thoát khỏi những thói đó chăng, là vì tôi không theo con đường khoa cử nối dõi nghiệp nhà, chuyển hướng ra làm thuốc nên chỉ muốn hết sức làm những việc đáng làm, may ra khỏi hổ thẹn với đất trời, đâu dám e ngại sự chê khen, để phải hối hận với bổn phận...
Tội của thầy thuốc, cụ thể là những tội nào?
8 tội thầy thuốc (theo tôn ý của Y tổ Lãn Ông):
1- Tội lười biếng, tiếc công.
2- Tội bủn xỉn, bòn mót.
3- Tội tham công, tranh việc.
4- Tội lừa dối, tham lợi.
5- Tội dễ làm, khó chạy.
6- Tội thù vặt, ác ý.
7- Tội cầu cạnh, nịnh bợ.
8- Tội ngu muội, giấu dốt.
1- Tội lười biếng, tiếc công.
2- Tội bủn xỉn, bòn mót.
3- Tội tham công, tranh việc.
4- Tội lừa dối, tham lợi.
5- Tội dễ làm, khó chạy.
6- Tội thù vặt, ác ý.
7- Tội cầu cạnh, nịnh bợ.
8- Tội ngu muội, giấu dốt.
8 điều bất trị:
1- Người kiêu căng không kể gì đạo lý - không trị.
2- Người coi trọng trọng tiền tài và coi nhẹ nhân mạng- không trị.
3- Người nghèo lâm trọng bịnh mà thầy thuốc cũng nghèo - không trị.
4- Nguời tin thuốc mà không tin thầy - không trị.
5- Người trị nhiều thầy và nhiều thuốc trong cùng một lúc, không chung đường lối - không trị.
6- Người chê thuốc đắng, thuốc hôi, không chịu uống, châm chích than đau - không trị.
7- Nguời không chịu kiêng cữ, ăn uống, đi lại, tham sắc dục…- không trị.
8- Người Âm Dương ly thoát, sinh cơ đã tuyệt - không trị.
Theo khamchuabenh.net
STRESS TRONG Y KHOA
Trích:
| Trước hết hãy xem một số bản tin: 1. Một bác sĩ nhảy lầu tự tử TT (Kiên Giang) - Tối 8-5, bác sĩ Võ Minh Điền - 28 tuổi, công tác tại khoa ngoại chấn thương chỉnh hình Bệnh viện Đa khoa Kiên Giang - đã chết sau khi nhảy lầu sáng cùng ngày. Bác sĩ tự sát sau khi chém nhiều đồng nghiệp Thứ sáu, 09 Tháng 7 2010 11:03 - Sau khi chém hai đồng nghiệp bị thương nặng, một bác sĩ ở Bệnh viện Tân Kỳ (Nghệ An) đã dùng chính con dao gây án để tự sát. Vào giờ nói trên, trong lúc cả bệnh viện đang tiến hành họp giao ban, không hiểu vì lý do gì, bác sĩ Trần Duy Thanh (SN 1974) nảy sinh mâu thuẫn với nữ hộ sinh Nguyễn Thị Hồng Hạnh (SN 1976). Một lúc sau, Thanh lấy dao chém chị Hạnh gục tại chỗ. Chưa dừng lại ở đó, Thanh tiếp tục dùng con dao này chém bác sĩ Sửu - Phó khoa ngoại - bị thương ở tay trái và một số vết thương trên người. Như “con thú say mồi”, Thanh tấn công luôn bác sĩ Lô Văn Cung (SN 1964), bác sĩ Cung bị chém một nhát từ cằm xuống cổ. Tỏ tình bất thành, bác sĩ sát hại y tá rồi tự tử (Dân trí) - Trong quá trình làm việc, bác sĩ Cao nảy sinh tình cảm với cô y tá phụ trách chung khoa với mình. Khi thổ lộ tình cảm, bị cô y tá trẻ từ chối, Cao đã dùng dao đâm người mình yêu rồi tự sát nhưng bất thành Nữ bác sĩ đồng tính tự tử vì thất tình Ngày 02/10/09 Theo cuộc điều tra chính thức cho biết, một bác sĩ chuyên ngành chụp quang tuyến nhiều kinh nghiệm đã tự tử sau khi thất tình vì chia tay với phối ngẫu dân sự của bà. Tỷ lệ tự sát trong nữ bác sĩ rất cao Làm nghề cứu người nhưng các bác sĩ, đặc biệt là nữ, lại có xu hướng tự hủy hoại cuộc đời cao hơn mức bình quân trong xã hội. Đây là phát hiện của các nhà khoa học Mỹ. Cuộc điều tra này được tiến hành khi các nhà khoa học tại Đại học Harvard nhận thấy, số vụ tự sát của nhân viên y tế tăng nhanh trong những năm gần đây, đặc biệt là ở những nước phát triển. Tiến sĩ Eva S. Schernhamme và tiến sĩ Graham A. Colditz cùng cộng sự tại Đại học Harvard đã phân tích kết quả của 25 công trình nghiên cứu về tình trạng tự sát của đội ngũ thầy thuốc. Nhóm chuyên gia nhận thấy tỷ lệ tự tử của nam bác sĩ cao hơn mức trung bình trong dân số là 41%. Trong khi đó, tỷ lệ tự sát trong nữ bác sĩ cao hơn gần 2 lần con số đó. Tình trạng số lượng các bác sĩ tự kết liễu cuộc đời đang tăng lên, tuy có vẻ bất thường, song lại là một thực tế. Và kết quả điều tra cho thấy tỷ lệ tự sát ở đối tượng nữ bác sĩ cao hơn quá nhiều so với nam bác sĩ và mức trung bình của xã hội. "Ngay cả khi tỷ lệ tự tìm đến cái chết của giới bác sĩ là không đáng kể, nó vẫn làm chúng ta nhận thức được rằng nghề cứu người hoá ra lại gây rất nhiều áp lực tinh thần cho họ. Tỷ lệ tự tử của bác sĩ tăng lên cho thấy tình trạng căng thẳng trong đội ngũ thày thuốc đã đến mức nghiêm trọng. Chính quyền cần xem xét nghiêm túc vấn đề này", Schernhamme nhận định. Việt Linh (theo Reuters) |
Lương y như từ mẫu-Có đúng không ở xã hội ngày nay?
Tôi gởi bài này kính các Bác sĩ hãy nhiệt tình hơn đối với bệnh nhân đến khám chữa trị bệnh tại bệnh viện.
Tôi thường bị đái rắt và buốt, thường xuất hiện những cơn đau âm ỉ từ niệu quản xuống phía gò mu. Cơn đau xuất hiện từ tháng 11/2009 và đến tháng 12/2009 tôi đã đến bệnh viện D.Q để khám. Bác sĩ bảo tôi qua khám sản và chuẩn đoán là tôi bị rối loạn vận động ruột. Tôi uống thuốc nhưng mãi vẫn không khỏi. Sau đó tôi ra Đà Nẵng khám ở bệnh viện B.D, bác sĩ siêu âm chuẩn đoán tôi có triệu chứng của bệnh thận,có thể bị sỏi, phụ khoa không có vấn đề gì.
Ngày 2/9/2010 tôi đã đi khám lại ở phòng khám tư của Bác sĩ VH....Bác sĩ siêu âm chuẩn đoán tôi bị nước ứ trong thận, có nguy cơ bị sỏi, cần phải đến bệnh viện nơi tôi đang có bảo hiểm để khám và chữa trị, còn về phụ khoa thì không có vấn đề gì cả.
Vào ngày 07 tháng 09 năm 2010 tôi đã đến bệnh viện D.Q khám để mong được biết phương pháp chữa trị. Ở phòng khám:
Tôi thường bị đái rắt và buốt, thường xuất hiện những cơn đau âm ỉ từ niệu quản xuống phía gò mu. Cơn đau xuất hiện từ tháng 11/2009 và đến tháng 12/2009 tôi đã đến bệnh viện D.Q để khám. Bác sĩ bảo tôi qua khám sản và chuẩn đoán là tôi bị rối loạn vận động ruột. Tôi uống thuốc nhưng mãi vẫn không khỏi. Sau đó tôi ra Đà Nẵng khám ở bệnh viện B.D, bác sĩ siêu âm chuẩn đoán tôi có triệu chứng của bệnh thận,có thể bị sỏi, phụ khoa không có vấn đề gì.
Ngày 2/9/2010 tôi đã đi khám lại ở phòng khám tư của Bác sĩ VH....Bác sĩ siêu âm chuẩn đoán tôi bị nước ứ trong thận, có nguy cơ bị sỏi, cần phải đến bệnh viện nơi tôi đang có bảo hiểm để khám và chữa trị, còn về phụ khoa thì không có vấn đề gì cả.
Vào ngày 07 tháng 09 năm 2010 tôi đã đến bệnh viện D.Q khám để mong được biết phương pháp chữa trị. Ở phòng khám:
Tham nhũng trong y tế VN
Ông Rolf Bergman (Đại sứ Thụy Điển) nhìn nhận, tham nhũng trong y tế là vấn đề đặc biệt "trầm trọng". "Nó đánh gục họ khi ở những thời điểm dễ tổn thương nhất. Giữa cái sống và cái chết, giữa vấn đề sức khỏe và ốm đau, người ta không còn có sự lựa chọn nào khác ngoài việc phải trả tiền".
Còn tiến sĩ Thaveeporn Vasavakul trong bài tham luận phân tích: "Đưa phong bì là để đút lót hay để trả ơn? Một người sẽ lấy lý do mức lương trong ngành y tế thấp, một bên sẽ cho rằng đó là chỉ hình thức tặng quà. Trong cả hai trường hợp người tặng và người nhận sẽ hiểu nghĩa như một cuộc trao đổi".
Theo bà, ngoài việc bày tỏ sự cảm ơn, bệnh nhân còn có tính toán khác đó là họ kỳ vọng sẽ được dịch vụ với chất lượng tốt hơn, giảm bớt thời gian chờ đợi. Dẫn chứng tại Viện Nhi Trung ương, nghiên cứu của tiến sĩ Thaveeporn Vasavakul cho thấy "trung bình mỗi em phải đợi 300 phút để tới lượt khám trong khi thời gian tương tác với nhân viên y tế là 40 phút".
Mổ xẻ nguyên nhân dẫn tới tham nhũng trong y tế, ông Jaico Acuna Alfaro (Cố vấn chính sách, cải cách hành chính công và phòng chống tham nhũng của UNDP) cho rằng một phần là do có hiện tượng bác sĩ đi mua "ghế" tại bệnh viện, và họ hy vọng khi được vào làm sẽ thu lại được số tiền đã bỏ ra.
Với thực tiễn kinh nghiệm nhiều năm trong nghề, bác sĩ Nguyễn Tiến Quyết (Giám đốc Bệnh viện Việt - Đức) đã làm "nóng" cuộc đối thoại bởi những tâm sự rất thật của người "trong cuộc".
"Những điều vừa nêu chỉ là hiện tượng rất nhỏ, không đại diện và không phải là phổ biến. Tôi không phủ nhận là không có tiêu cực, việc này nước nào cũng có. Đó là hiện tượng bất khả kháng", ông nêu quan điểm.
Người lãnh đạo bệnh viện ngoại khoa hàng đầu của VN khẳng định quyết tâm chống tham nhũng, tiêu cực đã luôn được ngành y tế quan tâm. Tại bệnh viện Việt - Đức do ông làm giám đốc luôn có đường dây nóng để người dân phản ánh bức xúc, đối thoại về thái độ phục vụ của y, bác sĩ.
Theo ông Tiến để chống tham nhũng cần thay đổi cơ chế quản lý, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu và mở rộng tối đa dân chủ. Nhưng quan trọng và cấp thiết hơn cả là tạo môi trường lành mạnh cho y, bác sĩ làm việc.
"Đề nghị nhà nước nuôi cho người ta đủ sống; trả lương y, bác sĩ 6-7 triệu đồng một tháng; đồng thời kỷ luật thật nghiêm thì tham nhũng, tiêu cực sẽ tự động giảm", ông đề xuất.
http://vnexpress.net/GL/Xa-hoi/2009/11/3BA160FE/
Còn tiến sĩ Thaveeporn Vasavakul trong bài tham luận phân tích: "Đưa phong bì là để đút lót hay để trả ơn? Một người sẽ lấy lý do mức lương trong ngành y tế thấp, một bên sẽ cho rằng đó là chỉ hình thức tặng quà. Trong cả hai trường hợp người tặng và người nhận sẽ hiểu nghĩa như một cuộc trao đổi".
Theo bà, ngoài việc bày tỏ sự cảm ơn, bệnh nhân còn có tính toán khác đó là họ kỳ vọng sẽ được dịch vụ với chất lượng tốt hơn, giảm bớt thời gian chờ đợi. Dẫn chứng tại Viện Nhi Trung ương, nghiên cứu của tiến sĩ Thaveeporn Vasavakul cho thấy "trung bình mỗi em phải đợi 300 phút để tới lượt khám trong khi thời gian tương tác với nhân viên y tế là 40 phút".
Mổ xẻ nguyên nhân dẫn tới tham nhũng trong y tế, ông Jaico Acuna Alfaro (Cố vấn chính sách, cải cách hành chính công và phòng chống tham nhũng của UNDP) cho rằng một phần là do có hiện tượng bác sĩ đi mua "ghế" tại bệnh viện, và họ hy vọng khi được vào làm sẽ thu lại được số tiền đã bỏ ra.
Với thực tiễn kinh nghiệm nhiều năm trong nghề, bác sĩ Nguyễn Tiến Quyết (Giám đốc Bệnh viện Việt - Đức) đã làm "nóng" cuộc đối thoại bởi những tâm sự rất thật của người "trong cuộc".
"Những điều vừa nêu chỉ là hiện tượng rất nhỏ, không đại diện và không phải là phổ biến. Tôi không phủ nhận là không có tiêu cực, việc này nước nào cũng có. Đó là hiện tượng bất khả kháng", ông nêu quan điểm.
Người lãnh đạo bệnh viện ngoại khoa hàng đầu của VN khẳng định quyết tâm chống tham nhũng, tiêu cực đã luôn được ngành y tế quan tâm. Tại bệnh viện Việt - Đức do ông làm giám đốc luôn có đường dây nóng để người dân phản ánh bức xúc, đối thoại về thái độ phục vụ của y, bác sĩ.
Theo ông Tiến để chống tham nhũng cần thay đổi cơ chế quản lý, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu và mở rộng tối đa dân chủ. Nhưng quan trọng và cấp thiết hơn cả là tạo môi trường lành mạnh cho y, bác sĩ làm việc.
"Đề nghị nhà nước nuôi cho người ta đủ sống; trả lương y, bác sĩ 6-7 triệu đồng một tháng; đồng thời kỷ luật thật nghiêm thì tham nhũng, tiêu cực sẽ tự động giảm", ông đề xuất.
http://vnexpress.net/GL/Xa-hoi/2009/11/3BA160FE/
7 Đặc Điểm của Một Thầy Thuốc Lý Tưởng
“Thái độ tốt sẽ tiến xa”, bịnh nhân cho biết như thế
Một thầy thuốc lý tưởng cần có những phẩm chất gì?
Bịnh nhân chia sẻ suy nghĩ của mình trong một nghiên cứu do Mayo Clinic tài trợ như sau:
Nghiên cứu được đăng tải trong Các Quy Trình của Mayo Clinics (Mayo Clinics Proceedings).
Nghiên cứu này dựa trên phỏng vấn 200 bịnh nhân điều trị tại Mayo Clinic ở Arizona và Minnesota từ 2001 đến 2002.
Phỏng vấn qua điện thoại, nội dung được giữ bí mật, với những bịnh nhân không có liên hệ gì với Mayo Clinic.
Họ cho biết những kinh nghiệm tốt và xấu nhất của mình với các bác sĩ điều trị của bịnh viện.
Các bác sĩ đã từng thăm khám cho bịnh nhân làm việc ở 14 chuyên khoa khác nhau.
Các nhà nghiên cứu trong đó có Neeli Bendapudi, PhD, từ Ohio State University's Fisher College of Business, kiểm tra lại biên bản nội dung thăm dò và đúc kết được 7 đặc điểm mà bịnh nhân yêu thích ở bác sĩ của họ như sau:
A-Danh sách những đặc tính?
Sau đây là 7 đặc tính mà bịnh nhân nêu lên cùng với định nghĩa của họ về các đặc tính ấy:
1- Sự Tự tin: "Bác sĩ có tự tin, có nắm vững và thông suốt vấn đề thì mới đem đến sự tin tưởng cho bịnh nhân được."
2- Sự Cảm thông, chia sẻ: "Bác sĩ cố gắng hiểu rõ những cảm nhận và chịu đựng của bịnh nhân về cả phương diện tinh thần lẫn thể xác và trao đổi được với người bịnh về những vấn đề đó.”
3- Tính Nhân đạo, nhân ái, đức độ, nhân văn: "Người thầy thuốc vừa chăm sóc điều trị, vừa cảm thông, vừa ân cần, tử tế."
4- Sự Riêng tư: "Bác sĩ chú ý đến tôi như một con người hơn chỉ đơn thuần là một bịnh nhân, tương tác với tôi, và nhớ đến tôi như một cá nhân riêng biệt."
5- Sự Thẳng thắn và thành thật: "Thầy thuốc trao đổi với tôi bằng một ngôn ngữ phổ thông rõ ràng, thành thật và đi thẳng vào vấn đề, không quanh co, lảng tránh ."
6- Sự Tôn trọng "Thầy thuốc xem trọng những thông tin mà tôi cung cấp đồng thời cùng hợp tác với tôi."
7- Cẩn thận , tỉ mỉ, chu đáo, toàn diện: "Thầy thuốc có lương tâm, có trách nhiệm, cần cù, nhẫn nại."
Danh sách này không theo một thứ tự cụ thể nào cả. Ví dụ, các nhà nghiên cứu không kiểm tra xem vấn đề tự tin có quan trọng đối với bịnh nhân hơn sự tôn trọng hay không?
B- Điều gì không nằm trong danh sách?
Các đặc điểm nói trên bao trùm và tạo nên nhân cách của một thầy thuốc, chứ không phải là những hiểu biết về khoa học kỹ thuật.
Các phát hiện trên "không có nghĩa là những kỹ năng về khoa học kỹ thuật ít quan trọng hơn các kỹ năng cá nhân, nhưng rõ ràng là bịnh nhân khó phán xét một thầy thuốc về phương diện chuyên môn hơn.
Bịnh nhân có khuynh hướng thừa nhận khả năng chuyên môn của thầy thuốc là tốt, trừ phi họ nhận thấy được điều ngược lại.
Khi được phỏng vấn, một bịnh nhân cho biết như sau:
"Chúng tôi cần những thầy thuốc có thể đồng cảm và hiểu rõ những nhu cầu của chúng tôi dưới góc độ một con người toàn diện…
Chúng tôi muốn có cái cảm giác yên tâm khi biết rằng các thầy thuốc có những kiến thức chuyên môn uyên thâm trong lĩnh vực nghề nghiệp của họ.
Tuy nhiên, mỗi thầy thuốc nên biết vận dụng những hiểu biết của mình một cách khôn ngoan và giải thích thế nào để những ngưòi bịnh nhân bình thường như chúng tôi có thể hiểu được bịnh tình và cách thức điều trị."
C- Bệnh nhân nào sẽ thích một bác sĩ lạnh lùng, chai sạn?
Cần phải thu thập thêm nhiều thông tin về giới tính, chủng tộc và tuổi tác của bịnh nhân. Những thông tin này rất cần thiết vì những dân tộc thiểu số và phụ nữ thường có được những kết quả điều trị xấu hơn so với đàn ông và người da trắng.
Thật hiển nhiên là bịnh nhân mong muốn người chăm sóc y tế cho mình phải là người tận tình, tỉ mỉ. Danh sách những tính cách đối nghịch với tính chất tốt đẹp của thầy thuốc như sau:
• Khép kín, ít nói, ít giải thích
• Thiếu quan tâm đến hoàn cảnh của người bệnh
• Sai lệch, lầm lẫn và lạc hướng trong công việc
• Lạnh lùng, thiếu nhiệt tình trong tiếp xúc, qua loa trong thăm khám.
• Chai cứng với nỗi đau của người bệnh
• Thiếu tôn trọng bệnh nhân, thiếu lễ phép, lịch sự
• Bận rộn, đa đoan, làm nhiều công việc cùng một lúc.
Chăm sóc y tế làm sao tốt được khi quan hệ giữa thầy thuốc và bịnh nhân được thực hiện một cách gấp rút, thiếu tôn trọng, lạnh lùng, chai sạn và cẩu thả?
BY Albatros
Tham Khảo
WebMD Medical News
By Miranda Hitti
Reviewed by Ann Edmundson, PhD
NGUỒN DIENDANYKHOA.COM
__________________
LỜI THAN CỦA CHAI DỊCH TRUYỀN " ĐỪNG LỢI DỤNG TÔI !"
Tôi hạnh phúc ! cám giác ấy thật tuyệt . khi những dòng chảy của tôi làm ấm lại cơ thể của một người đang phải thoi thóp ? họ hàng nhà tôi có rất nhiều chi cành ! nào là dòng họ dịch đẳng trương , nào là dịch ưu trương ! nào là dịch nhược trương , nào là máu thay thế , nào là huyết tương của những người tình nguyện . chúng tôi - mỗi người có một tác dụng , khi bệnh nhân cần là có chúng tôi . luôn luôn túc trực chờ hòa vào những cơ thể yếu đuối . từ khi con người khai sinh ra chúng tôi hiệu quả chúng tôi mang lại thật to lớn
Đấy chỉ là khi chúng tôi được sử dụng đúng mục đích . chúng tôi mang lại hy vọng sống cho bệnh nhân . càng ngày dòng họ chúng tôi lại vươn ra , như con bạch tuộc vươn ra trong khắp các chỉ định của các bác sĩ . Họ-có những người sử dụng chúng tôi hết công suất vì gì ư ? vì sức khỏe bệnh nhân ? thế thì hạnh phúc quá ? nhưng than ôi chúng tôi trở thành chìa khóa cho họ kiến tiền . dòng họ có số lượng nhiều nhất trong chúng tôi là ringer lactat và GLUCOSE 5% , chúng tôi được mang đến tận những ngóc nagnhs xa xôi nhất , đên tận nhà những người mạnh khỏe nhất để là gì ?TRUYỀN ĐỂ KIẾM TIỀN ! THAN ÔI ! người anh em của chúng bây giờ thì ai cũng có thể chir định được . sinh viên y5 về nhà truyền hộ , bác sĩ mới ra trường , trạm trưởng trạm y tế xã . chán thật . con người bây giờ hơi yếu ti thì xin truyền .ừ thì truyền . không hiểu bây giờ cán bộ y tế nghĩ gì nữa . có lẽ bây giò y tế đã là một ngành dịch vụ . mà đã dịch vụ thì khách hàng là thượng để mà
CHỈ MONG CHÚNG TÔI ĐƯỢC SỬ DỤNG ĐÚNG MỤC ĐÍCH . NHƯ THẾ THÌ CÒN GÌ MỪNG HƠN
Đấy chỉ là khi chúng tôi được sử dụng đúng mục đích . chúng tôi mang lại hy vọng sống cho bệnh nhân . càng ngày dòng họ chúng tôi lại vươn ra , như con bạch tuộc vươn ra trong khắp các chỉ định của các bác sĩ . Họ-có những người sử dụng chúng tôi hết công suất vì gì ư ? vì sức khỏe bệnh nhân ? thế thì hạnh phúc quá ? nhưng than ôi chúng tôi trở thành chìa khóa cho họ kiến tiền . dòng họ có số lượng nhiều nhất trong chúng tôi là ringer lactat và GLUCOSE 5% , chúng tôi được mang đến tận những ngóc nagnhs xa xôi nhất , đên tận nhà những người mạnh khỏe nhất để là gì ?TRUYỀN ĐỂ KIẾM TIỀN ! THAN ÔI ! người anh em của chúng bây giờ thì ai cũng có thể chir định được . sinh viên y5 về nhà truyền hộ , bác sĩ mới ra trường , trạm trưởng trạm y tế xã . chán thật . con người bây giờ hơi yếu ti thì xin truyền .ừ thì truyền . không hiểu bây giờ cán bộ y tế nghĩ gì nữa . có lẽ bây giò y tế đã là một ngành dịch vụ . mà đã dịch vụ thì khách hàng là thượng để mà
CHỈ MONG CHÚNG TÔI ĐƯỢC SỬ DỤNG ĐÚNG MỤC ĐÍCH . NHƯ THẾ THÌ CÒN GÌ MỪNG HƠN
DẤU NGHỀ TRONG Y HỌC LÀ TỘI ĐỒ CỦA Y HỌC. TRUYỀN ĐẠT TRONG Y HỌC LÀ ĐỨC SÁNG CỦA Y HỌC.
Có những lúc ta tưởng rằng đã mất mát hay thua kém rất nhiều nhưng ta đâu có ngờ rằng kỳ thực cái ta được không phải là nhỏ-“tái ông thất mã”.
Trong cuộc chiến này anh có thể thua,cuộc chiến tiếp theo anh cũng có thể thua và cả cuộc chiến tiếp theo nữa NHƯNG cuộc chiến cuối cùng anh phải chiến thắng!
Tiền không tự sinh ra và cũng không tự mất đi,nó chuyển từ túi người này sang túi người khác và cuối cùng nó sẽ chuyển vào túi mình và chỉ có túi mình mà thôi.Vậy để nó chuyển vào túi mình thì:”Mỗi mẩu thời gian,mỗi việc nhỏ tạo nên cuộc sống:poor or rich”.
Kẻ nào làm cho cha mẹ buồn thi kẻ đó đã rất bất hạnh ngay chính trong giây phút ấy.
Hãy dành tất cả thời gian quý báu bên gia đình để yêu thương nhau bởi khi xa nó ta mới thấy thấm thía nhường nào.
Anh tưởng sau này sẽ trả ơn cho cha mẹ anh những bát vàng đổi lấy những bát ngô,bát cơm bấy nhiêu năm qua?Chưa đủ đâu anh ạ và không bao giờ đủ cả.
Con người ta hơn nhau ở chỗ biết điều gì nên biết và làm việc gì nên làm.
BÀI VIẾT CỦA PROFTHANH
Trong cuộc chiến này anh có thể thua,cuộc chiến tiếp theo anh cũng có thể thua và cả cuộc chiến tiếp theo nữa NHƯNG cuộc chiến cuối cùng anh phải chiến thắng!
Tiền không tự sinh ra và cũng không tự mất đi,nó chuyển từ túi người này sang túi người khác và cuối cùng nó sẽ chuyển vào túi mình và chỉ có túi mình mà thôi.Vậy để nó chuyển vào túi mình thì:”Mỗi mẩu thời gian,mỗi việc nhỏ tạo nên cuộc sống:poor or rich”.
Kẻ nào làm cho cha mẹ buồn thi kẻ đó đã rất bất hạnh ngay chính trong giây phút ấy.
Hãy dành tất cả thời gian quý báu bên gia đình để yêu thương nhau bởi khi xa nó ta mới thấy thấm thía nhường nào.
Anh tưởng sau này sẽ trả ơn cho cha mẹ anh những bát vàng đổi lấy những bát ngô,bát cơm bấy nhiêu năm qua?Chưa đủ đâu anh ạ và không bao giờ đủ cả.
Con người ta hơn nhau ở chỗ biết điều gì nên biết và làm việc gì nên làm.
BÀI VIẾT CỦA PROFTHANH
BÁC SĨ THÌ .....
Thư gửi em, sinh viên y khoa tương lai.
Em thường nói với anh rằng em thích ngành y vì với nó, em sẽ có một thu nhập cao, một cuộc sống sung sướng và đầy đủ. Vì vậy, chính lý do kinh tế em sẽ chọn y khoa.
Nhưng em ơi, em có biết, mức lương của anh hiện nay, không thể hơn thu nhập của một chị công nhân, một anh nông dân chứ đừng nói đến một anh kỹ sư vi tính hay một chị thư ký giám đốc. Và cũng đừng bàn đến một anh nghệ sĩ hài hay một chị ca sĩ bởi thu nhập của bọn họ chắc chắn gấp vài chục đến vài trăm lần bọn anh. Nhắc đến mà thấy tủi thân, tự nhận thấy cái nghề mình thật bạc bẽo…
Là một y bác sĩ, em chỉ có thể gọi tạm là đủ sống, nhưng để có một cuộc sống sung sướng, đầy đủ thì có lẽ em nên bán rẻ lời thề Hippocrate hoặc bỏ mặc y đức của mình dưới bàn chân.
Em thường nói với anh rằng em chọn nghành y vì đó là nghành nghề được xã hội tôn trọng, và là một nghề cao quý. Là y bác sĩ, em sẽ ngẩng cao mặt, ưỡn cao ngực đầy tự hào với cái bảng tên sinh viên y khoa. Chính lý do được mọi người kính nể nên em chọn y khoa.
Ừ, đúng là y khoa là nghề cao quý thật nhưng nó lại không phải là một nghề mà nó là một cái nghiệp. Cái nghiệp mà chỉ có người trong ngành mới cảm nhận được.
Khi là sinh viên y khoa, mỗi sáng bọn anh phải lăn lê ngoài hành lang bệnh viện, mỗi chiều lại phải lau quần bên giảng đường, mài đít nơi thư viện và mỗi đêm trực phải bò trường nơi góc phòng bệnh. Và lúc nào trông bọn anh cũng không khác gì một lũ ăn xin trong bệnh viện (mỗi khi nhắc lại là một lần buồn, mọi người tôn trọng sinh viên y khoa thế mà).
Mỗi khi khám bệnh, bọn anh không chỉ cần phải hỏi mà còn cần phải xem nước tiểu, phân, nước bọt, đàm, nhớt… nói chung là tất cả các chất thải, chất hôi thối của bệnh nhân xem có cải thiện so với trước không. Ừ, thì cao quý với những con người mà ngày ngày, đêm đêm xem xét từng sự thay đổi về mọi thứ phế thải đầy hôi thối của bệnh nhân em nhỉ?
Em thường nói với anh rằng em yêu nghành y vì khi ra trường, em dễ dàng kiếm việc làm, dễ dàng có chỗ đứng trong xã hội. Chính lý do việc làm nên em chọn y khoa.
Ừ, anh biết rằng em nhận thấy mỗi năm, cả nước có hơn 2000 y bác sĩ tốt nghiệp trải từ khắp đất nước, từ Hà Nội, trái tim cả nước, Thái Bình, vựa lúa của tổ quốc, vào Tây Nguyên, Huế rồi tới TP HCM, thành phố mến yêu của chúng ta cho đến Cần Thơ và những vùng đất phía nam.
Trong khi đó, mỗi năm, chỉ riêng ĐH Kinh Tế TP HCM đã có hơn 10.000 cô cử, cậu cử thì chắc mẩm em sẽ dễ kiếm việc ư? Nếu thế thì đã không có chuyện đau lòng khi các y bác sĩ đi làm trình dược viên tại các bệnh viện bị bảo vệ đuổi chạy có cờ, hoặc nhiều y bác sĩ phải bỏ nghề để theo đuổi một công việc khác, hoặc nhiều y bác sĩ phải đi làm công quả tại các bệnh viện lớn nhỏ, em nhỉ?
Em hãy nói:
Em thích mặc áo blousse trắng vì khi mặc nó trên mình em sẽ ý thức được bản thân, ý thức được công việc em đã làm, đang làm và sẽ làm.
Em thích được giúp đỡ mọi người vì em muốn được chia sẻ sự đau đớn của những bệnh nhân ung thư, sự vật vã của những bà mẹ khi sanh đẻ, hay cảm thông trước những mất mát của thân nhân khi người bệnh lìa đời.
Em thích học y khoa vì em muốn tự chữa bệnh cho bản thân, gia đình và cho mọi người xung quanh.
Và em hãy nói em thích y khoa chỉ đơn giản vì nó là một sự kết hợp của nghệ thuật – khoa học – xã hội với tình cảm – lương tâm- trách nhiệm.
BS Hồng Hà – TPHCM
Em thường nói với anh rằng em thích ngành y vì với nó, em sẽ có một thu nhập cao, một cuộc sống sung sướng và đầy đủ. Vì vậy, chính lý do kinh tế em sẽ chọn y khoa.
Nhưng em ơi, em có biết, mức lương của anh hiện nay, không thể hơn thu nhập của một chị công nhân, một anh nông dân chứ đừng nói đến một anh kỹ sư vi tính hay một chị thư ký giám đốc. Và cũng đừng bàn đến một anh nghệ sĩ hài hay một chị ca sĩ bởi thu nhập của bọn họ chắc chắn gấp vài chục đến vài trăm lần bọn anh. Nhắc đến mà thấy tủi thân, tự nhận thấy cái nghề mình thật bạc bẽo…
Là một y bác sĩ, em chỉ có thể gọi tạm là đủ sống, nhưng để có một cuộc sống sung sướng, đầy đủ thì có lẽ em nên bán rẻ lời thề Hippocrate hoặc bỏ mặc y đức của mình dưới bàn chân.
Em thường nói với anh rằng em chọn nghành y vì đó là nghành nghề được xã hội tôn trọng, và là một nghề cao quý. Là y bác sĩ, em sẽ ngẩng cao mặt, ưỡn cao ngực đầy tự hào với cái bảng tên sinh viên y khoa. Chính lý do được mọi người kính nể nên em chọn y khoa.
Ừ, đúng là y khoa là nghề cao quý thật nhưng nó lại không phải là một nghề mà nó là một cái nghiệp. Cái nghiệp mà chỉ có người trong ngành mới cảm nhận được.
Khi là sinh viên y khoa, mỗi sáng bọn anh phải lăn lê ngoài hành lang bệnh viện, mỗi chiều lại phải lau quần bên giảng đường, mài đít nơi thư viện và mỗi đêm trực phải bò trường nơi góc phòng bệnh. Và lúc nào trông bọn anh cũng không khác gì một lũ ăn xin trong bệnh viện (mỗi khi nhắc lại là một lần buồn, mọi người tôn trọng sinh viên y khoa thế mà).
Mỗi khi khám bệnh, bọn anh không chỉ cần phải hỏi mà còn cần phải xem nước tiểu, phân, nước bọt, đàm, nhớt… nói chung là tất cả các chất thải, chất hôi thối của bệnh nhân xem có cải thiện so với trước không. Ừ, thì cao quý với những con người mà ngày ngày, đêm đêm xem xét từng sự thay đổi về mọi thứ phế thải đầy hôi thối của bệnh nhân em nhỉ?
Em thường nói với anh rằng em yêu nghành y vì khi ra trường, em dễ dàng kiếm việc làm, dễ dàng có chỗ đứng trong xã hội. Chính lý do việc làm nên em chọn y khoa.
Ừ, anh biết rằng em nhận thấy mỗi năm, cả nước có hơn 2000 y bác sĩ tốt nghiệp trải từ khắp đất nước, từ Hà Nội, trái tim cả nước, Thái Bình, vựa lúa của tổ quốc, vào Tây Nguyên, Huế rồi tới TP HCM, thành phố mến yêu của chúng ta cho đến Cần Thơ và những vùng đất phía nam.
Trong khi đó, mỗi năm, chỉ riêng ĐH Kinh Tế TP HCM đã có hơn 10.000 cô cử, cậu cử thì chắc mẩm em sẽ dễ kiếm việc ư? Nếu thế thì đã không có chuyện đau lòng khi các y bác sĩ đi làm trình dược viên tại các bệnh viện bị bảo vệ đuổi chạy có cờ, hoặc nhiều y bác sĩ phải bỏ nghề để theo đuổi một công việc khác, hoặc nhiều y bác sĩ phải đi làm công quả tại các bệnh viện lớn nhỏ, em nhỉ?
Em hãy nói:
Em thích mặc áo blousse trắng vì khi mặc nó trên mình em sẽ ý thức được bản thân, ý thức được công việc em đã làm, đang làm và sẽ làm.
Em thích được giúp đỡ mọi người vì em muốn được chia sẻ sự đau đớn của những bệnh nhân ung thư, sự vật vã của những bà mẹ khi sanh đẻ, hay cảm thông trước những mất mát của thân nhân khi người bệnh lìa đời.
Em thích học y khoa vì em muốn tự chữa bệnh cho bản thân, gia đình và cho mọi người xung quanh.
Và em hãy nói em thích y khoa chỉ đơn giản vì nó là một sự kết hợp của nghệ thuật – khoa học – xã hội với tình cảm – lương tâm- trách nhiệm.
BS Hồng Hà – TPHCM
Y ĐỨC LÀ ĐÂY
Xin lỗi vì đã đặt cái tựa hơi sốc, nhưng đọc qua bài này, tôi nhận thấy nếu trong hoàn cảnh XH hiện nay, thấm nhuần những tư tưởng này, ngành Y nói riêng và XH nói chung, đều trở nên đẹp hơn, nhân văn hơn. Có lẽ đã đến lúc cần nêu cao khẩu hiệu: "Sống ở trên đời, cần có một niềm tin", nhưng tất nhiên, đừng mù quáng.
It is when the horizon is darkest and human reason is beaten down to the ground that the faith shines brightest and comes to our rescue.
(Chính khi chân trời trở nên u ám nhất và khi lý trí con người bị đập vỡ nát tan tành thì niềm tin lại bừng lên sáng chói và cứu rỗi chúng ta.)
Sự băng hoại đạo đức, sự phá sản những giá trị tinh thần trong xã hội chúng ta hiện nay đang gióng lên những hồi chuông báo động. Xã hội chúng ta đang đứng trước những cơn địa chấn tinh thần khiến toàn thể toà lâu đài đạo lý của cha ông bị lung lay dữ dội. Bức tranh truyền thống đạo lý tốt đẹp bao đời đã loang lở quá nhiều. Luân thường bị đảo lộn, giềng mối bị xới tung. Từ gia đình đến học đường, từ cá nhân đến xã hội, đâu đâu cũng có thể thấy những mảng xám đen về đạo đức. Bạo lực, giết chóc, tệ nạn xã hội diễn ra hằng ngày như cơm bữa. Con người đâm ra dửng dưng trước mọi biến cố. Những tin tức đáng kinh hãi về vấn đề đạo lý đăng tải trên báo cũng chỉ được đọc với thái độ hững hờ, như tin móc túi hay giật dọc. Mấy chục năm qua, đời sống vật chất tuy có được nâng cao, nhưng chua xót thay khi đời sống tinh thần lại ngày càng xuống dốc. Ngay cả giáo dục và y tế -hai môi trường được xem như là sự phản ánh lương tri của mọi xã hội trong mọi thời đại- cũng diễn ra cảnh bạo lực, thậm chí còn bị biến thành một thương trường suy đồi về đạo đức. Trí tuệ và mạng sống con người – những thứ được xem là cực kỳ cao quý – cũng trở thành những món hàng kinh doanh, được mua bán bằng tiền, thậm chí được trao đổi bằng cả thân xác. Người người đều hối hả chạy theo cuộc sống vật chất, dùng mọi thủ đoạn để chiếm hữu, để hưởng thụ, để tranh danh đoạt lợi, biến cuộc đời thành một bãi chiến trường theo kiểu “đấu tranh sinh tồn” của Darwin. Mọi giá trị tinh thần, mọi tiêu chuẩn đạo lý, mọi thước đo nhân phẩm trong cuộc sống dường như đều được quy thành vật chất, và giá trị con người được tính tỷ lệ thuận theo độ dày của những xấp giấy bạc.
Đằng sau sự háo nhoáng giả tạo, quá đỗi giả tạo của một xã hội chỉ biết chú tâm vào tiêu dùng và hưởng thụ, là cảnh sa mạc hoang lương của đời sống tinh thần và đạo lý. Chưa bao giờ sinh hoạt tinh thần và đời sống văn hóa lại xuống thấp đến thế. Khoảng mười năm gần đây, đi đâu chúng ta cũng dễ dàng thấy khẩu hiệu “văn hóa” ở khắp mọi nơi. Gia đình văn hóa, tổ dân phố văn hóa, xóm văn hóa, thôn văn hóa, làng văn hóa, bưu điện văn hóa, công viên văn hóa …. Chữ “văn hóa” đã bị lạm dụng đến mức chúng ta có thể dễ dàng cảm nhận được đời sống văn hóa của chúng ta đã có vấn đề trầm trọng, như một người đau răng thì chỉ luôn nghĩ đến cái răng đau. Chưa bao giờ tính ích kỷ cá nhân, sự dửng dưng vô cảm, sự tham lam chiếm hữu và hưởng thụ, sự dối trá lọc lừa, sự tàn bạo nhẫn tâm và sự trơ tráo lại tràn lan trong xã hội chúng ta nhiều đến thế, chưa bao giờ tình người lại thiếu vắng đến thế. Cuộc sống thực dụng, quá đỗi thực dụng, đã khiến tiếng những đồng tiền rơi xủng xoẻng át đi tiếng nói của lương tri. Thủ đoạn lọc lừa cùng sự trơ tráo đã trở thành tấm giấy thông hành trong cuộc sống, khiến ai nấy đều co cụm lại để tìm chỗ trú an toàn, và nhìn chung quanh với đôi mắt ngờ vực, đầy ác cảm.
Mọi nỗ lực vãn hồi đạo lý theo kiểu khẩu hiệu hoặc phong trào đều như muối bỏ bể, vì chúng ta chỉ giải quyết được phần ngọn chứ không phải phần gốc, giống như để làm nguội một nồi nước đang sôi trên bếp, thay vì tắt lửa, chúng ta chỉ biết tất bật châm thêm nước. Châm nước xong, nồi nước có thể dịu lại một lúc nhưng rồi sẽ tiếp tục sôi. Căn nguyên sâu xa, theo thiển ý, là do xã hội chúng ta hiện nay đang thiếu một sự định hướng tinh thần chân chính. Có một giai đoạn chúng ta đã quá vội vã và hăng hái một cách sốc nổi trong việc đạp đổ những giá trị văn hóa và tâm linh truyền thống để thay thế vào đó bằng những giá trị được cho là mới mẻ. Chúng ta xóa bỏ những cái “bất biến” để chỉ chạy theo những thứ “tùy duyên”. Chúng ta nghĩ rằng có thể xây dựng được một xã hội hoàn toàn mới bằng niềm tin tất thắng đầy cảm tính ngây thơ, bằng những lý luận chắc nịch tưởng chừng không thể lay chuyển nổi. Chúng ta dự đoán đà tiến hóa của lịch sử chỉ thuần bằng lý luận theo kiểu lập trình trong máy tính, để rồi khi cơn thủy triều thời gian nhanh chóng cuốn sạch đi những gì ta khổ công tạo dựng và cố gắng níu kéo bằng mọi cách, ta mới thấy rằng cuộc sống vẫn cứ âm thầm trôi theo một chiều khác hẳn với những bài bản trong lý thuyết. Khi cơn thủy triều thời gian rút xuống, dưới đáy cuộc sống lại hiện ra, ẩn hiện trong những lớp phù sa, những giá trị mà ta ngỡ rằng có thể vất bỏ đi. Giờ đây chúng ta lại hối hả đi nhặt nhạnh những mảnh vụn đó để chắp vá lại, với ước mong tái tạo được hình tượng ban đầu. Nhưng những hình tượng chắp vá đó chỉ còn là hình thức, mà đã đánh mất hoàn toàn phần tinh thần, là phần đem lại giá trị đích thực cho hình tượng đó. Xã hội chúng ta đang có nguy cơ đối diện với cái mà thánh Gandhi gọi là “chân trời đen tối nhất”, hay một biến cố tương tự với cái mà mà triết gia Heidegger gọi là “sự tăm tối âm u trên cõi thế” (die Verdüsterung der Welt), nhưng thực tế còn nguy hiểm hơn, khi bên cạnh sự suy đồi tinh thần thì “sự tăm tối âm u” đó lại kéo theo sự suy đồi của đạo lý.
Suốt một thời gian dài, chúng ta chưa hiểu đầy đủ về bản chất con người, nên chúng ta muốn vượt qua giai đoạn làm người để trở thành những anh hùng. Chúng ta tưởng có thể dùng lý trí để xoay chuyển càn khôn, đem lý luận để chuyển dời lịch sử. Những gì không hiểu được đều bị chúng ta phủ định sạch trơn, theo kiểu vua quan triều Nguyễn cho rằng cái đèn chúc ngược mà vẫn sáng chỉ là trò lừa bịp, hay cậu học trò cấp 2 cho rằng các phương trình vi phân chỉ là điều vô bổ. Sự tự mãn đã đẩy xã hội chúng ta rơi vào sự ấu trĩ, giống như một đứa bé, sau khi dùng ná cao su bắn chết được một con chim, bèn giương ná lên trời và tin rằng có thể bắn rụng cả vầng trăng. Với những quan điểm cực đoan về tôn giáo và mơ hồ về sự phát triển thực tế của cuộc sống, chúng ta vội vã phủ nhận những giá trị văn hóa tâm linh, vì cho rằng lòng kính tín siêu nhiên có thể trói buộc tâm thức con người trong sợ hãi, không cho con người tiến đến tự do. Chúng ta không hiểu rằng làm một con người chân chính khó hơn làm một thiên thần. Chừng nào con người còn là con người với tham- sân-si, thì sự sợ hãi từ lòng kính tín siêu nhiên đó là điều cần thiết giúp con người biết kiềm chế dục vọng để tự mình đi theo con đường đạo lý, giống như một cậu học trò nghịch ngợm không dám làm điều càn quấy trước vị thầy đức độ nhưng nghiêm khắc. Lịch sử nhân loại cho thấy lòng kính tín siêu nhiên, mặc dù lắm phen bị lạm dụng, vẫn góp phần điều hòa được những giếng mối đạo lý trong xã hội, giúp xã hội ổn định mà không cần đến sự ước thúc của pháp luật. Tín đồ Thiên chúa giáo sẽ khoan hòa hơn nếu biết tin sợ đức Chúa Trời, tín đồ Tin Lành sẽ nhân ái hơn nếu biết tin sợ đức Jésus, tín đồ Hồi giáo sẽ tốt đẹp hơn nếu biết tin sợ đức Ala, tín đồ Phật giáo sẽ thuần thành hơn nếu biết tin vào Phật pháp. Ở xã hội Á Đông, hơn mấy ngàn năm qua, nhiều người dù không theo một tôn giáo nào thì vẫn tin vào ông Trời và sợ luật nhân quả. Ngay cả kẻ nắm toàn quyền sinh sát trong tay như các ông vua Trung Quốc thời phong kiến vẫn phải có đấng Tối cao để sợ. Nhiều người không hiểu thâm ý của hai chữ “Thiên tử ” nên vội vàng cho đó là lối thậm xưng đầy huênh hoang của kẻ nắm quyền cai trị. Vua là kẻ nắm toàn quyền sinh sát trong tay, không có gì khiến “ông trời con” kia sợ hãi nữa. Mà khi không có gì để sợ hãi thì “ông trời con” kia sẽ biến thành thiên thần hoặc biến thành ác quỷ, mà chắc chắn đến 99,9% là biến thành ác quỷ, nên người xưa phải đặt ra khái niệm “thiên tử” để khống chế vua. Mỗi khi có thiên tai bão lụt đẩy nhân dân vào cảnh khốn khó, các vị quan thường vin vào cớ đó, xem như là lời răn đe cảnh cáo của “ông bố vua ” là ông Trời để can ngăn vua bớt hoang dâm, mà lo tu nhân tích đức. Vua vẫn phải có cái để sợ là ông Trời thì mới có thể tự kiềm chế được mình mà thành ông vua tốt. Khi con người luôn thấy mình là những kẻ anh hùng vĩ đại, muốn bắt lịch sử và vũ trụ phải cúi đầu, thì họ sẽ không sợ gì cả. Nhưng khi một xã hội không còn cái gì để sợ nữa, khi không còn một thế lực siêu nhiên nào có thể ước thúc hành vi con người được nữa thì xã hội đó sẽ có nguy cơ đối mặt với sự hỗn loạn và suy đồi. Một xã hội chỉ có thể sống an vui tự tại mà không cần đến sự kính tín siêu nhiên, khi nào xã hội đó gồm toàn những triết nhân thấu đạt được lẽ sinh tử huyền vi hay những bậc chân nhân giác ngộ.
Có một thời, thế giới phương Tây tôn vinh thuyết tiến hóa Darwin, xem như là một thắng lợi vẻ vang của nhân loại. Sinh học chi phối tư tưởng triết học phương Tây trong thế kỷ 19, giống như vai trò của toán học trong thế kỷ 17. Con người tưởng mình sẽ là những chủ nhân ông thực sự của vũ trụ để kiến tạo nên một thế giới hoàn hảo, khi giao trả Thượng đế lại cho những kẻ được xem là mê tín nhảm nhí. Nhưng những bậc trí giả phương Tây đã nhanh chóng nhận ra rằng học thuyết của Darwin, bên cạnh những ý nghĩa tích cực về khoa học, đã vô tình góp phần đẩy xã hội phương Tây đến bờ vực thảm họa về đạo đức, khi những giá trị tối thượng của cuộc sống được đánh giá theo những tiểu chuẩn lạnh lùng của sinh học. Thần thánh bỏ đi, nhường chỗ cho lý trí và quy luật sinh học, điều đó đã khiến cõi thế mất đi sự hòa điệu và biến thành một bãi chiến trường khốc liệt.
Văn hào Pháp Voltaire có một câu nói nổi tiếng “Nếu Thượng đế không tồn tại thì ta nên tạo ra Ngài” (Si Dieu n’existait pas, il faudrait l’inventer). Câu này đã được văn hào Dostoievski triển khai như là tư tưởng chủ đạo trong tiểu thuyết vĩ đại “Anh em nhà Karamazov”. Văn hào Nga này đã cảnh báo nếu con người sống với tư tưởng “nếu không có Thượng đế thì tất cả đều được phép làm” (Si Dieu n’existe pas, tout est permis) thì sẽ không có gì có thể ngăn cản được con người tự tàn sát lẫn nhau cho đến kẻ cuối cùng, và ông cho rằng “Ngày phán xét cuối cùng” phải được đưa ra như là điểm dừng cho sự xuống dốc của đạo đức. Nếu tôi sinh ra một cách ngẫu nhiên để chỉ sống một cuộc đời ngắn ngủi, rồi sau đó là Hư vô theo kiểu “Après nous le déluge!”, thì việc gì tôi lại không hưởng thụ, cho dầu sự hưởng thụ đó được trả giá bằng nước mắt, bằng sự khổ đau thậm chí bằng cả cái chết của những người đồng loại? Nhân vật Smerdiakov giết cha nuôi là Fiodor Karamazov để cướp của cũng chỉ vì cái tư tưởng “Tout est permis” khủng khiếp này. Trong thời gian qua, đã có không ít những Smerdiakov gây nên biết bao chuyện hãi hùng trong xã hội chúng ta.
Trừ những bậc chân sư giác ngộ hoặc những kẻ vĩ cuồng ấu trĩ, con người phần lớn vẫn là những sinh vật yếu đuối, về thể xác lẫn tinh thần. Khi bị quăng ném vào “cõi người ta”, con người thường thấy mình quá bé nhỏ nên đâm ra hoang mang giữa vũ trụ mịt mùng, do đó họ vẫn luôn cần đến điểm tựa là một đấng Siêu nhiên. Triết học hay tôn giáo ra đời cũng chỉ để giúp con người nguôi đi phần nào cái cảm thức hoang mang đó, trong việc tìm ra một chỗ “an thân lập mệnh”. Ngay cả những kẻ thời trai trẻ xông xáo trong đấu trường của Lý trí, chỉ tin duy nhất vào khoa học, thì đến lúc cuối đời vẫn cần đến một đức tin. Lý trí dù mãnh liệt đến mấy cũng khó lòng giúp con người thoát được cảm thức hoang mang trước Hư vô, khi cận kề cái chết, hoặc khi đối mặt với những vấn đề phi lý trong cuộc sống, mà ta không sao lý giải nổi. Đó là cơ duyên để chúng ta lắng nghe thế giới tâm linh lên tiếng. Chỉ khi nào mạch nguồn tâm linh sâu thẳm trong mỗi người được khai mở thì tâm thức người đó mới thực sự được nâng cao để nhận ra những giá trị chân chính của cuộc sống. Những giá trị đó không phải được tôn vinh bằng những danh từ sáo rỗng, mà phát khởi từ những gì sâu thẳm nhất trong ta, do đó nó mới có giá trị trường cửu. Khi nào chúng ta chỉ biết chạy theo những giá trị phù du của vật chất, xem đó là những giá trị tối thượng trong cuộc sống thì tâm trí chúng ta vẫn luôn hỗn loạn bởi khát vọng chiếm hữu và hưởng thụ. Và sự hỗn loạn trong tâm trí chúng ta phóng chiếu thành sự hỗn loạn trong xã hội. Do đó, sự hỗn loạn trong xã hội chỉ có thể chấm dứt khi sự hỗn loạn trong nội tâm mỗi người chấm dứt. Mà sự hỗn loạn trong nội tâm mỗi người chỉ có thể chấm dứt khi con người có được sự định hướng tinh thần chân chính. Để góp phần vãn hồi sự suy đồi đạo đức trong xã hội hiện nay, có lẽ chúng ta phải cần đến một cái gì đó vượt lên trên lý trí : tiếng nói của tôn giáo trong thế giới tâm linh.
Chừng nào con người còn tồn tại trên trái đất, chừng nào những cảm thức về sự phi lý diêu mang của cõi thế, những cảm thức hoang mang về vũ trụ mịt mùng còn nảy sinh, có nghĩa là những khắc khoải siêu hình còn tồn tại, thì ngày đó tiếng nói của tôn giáo vẫn còn vang lên trong thế giới tâm linh. Mọi tôn giáo chân chính luôn nâng cao đời sống tâm linh cho con người, giúp con người hướng thiện và đem lại bình yên cho cõi thế. Nó chỉ trở nên suy đồi khi bị lạm dụng để biến thành một thế lực phục vụ cho thần quyền hoặc thế quyền.
Để có thể cứu vãn nền đạo lý đang có nguy cơ đổ nát, phải chăng đã đến lúc xã hội chúng ta cần lắng nghe tiếng nói của tâm linh? Thế nhưng giữa thời đại mà khoa học được xem như chiếc đũa vạn năng để giải quyết nhiều vấn nạn cho nhân loại, thì liệu có một tôn giáo nào có thể giúp chúng ta kiến tạo nên một nhân sinh quan hay một thế giới quan khoa học mà vẫn đáp ứng được những khát vọng tâm linh cùng những yêu sách về đạo lý? Theo nhà vật lý thiên tài Einstein thì câu trả lời sẽ là Phật giáo. Câu trả lời này đã gây ra nhiều tranh luận về nguồn gốc và nội dung của nó. Người viết đã đề cập đến vấn đề tế nhị này một lần, nên ở đây chỉ xin nhấn mạnh một điểm : tại Việt Nam, Phật giáo gần như đã gắn liền với lịch sử dân tộc, giống như Thiên chúa giáo với lịch sử các dân tộc Âu châu, như Hồi giáo với lịch sử các nước khối Á Rập hay vùng Trung Á, cho nên Phật pháp dễ dàng thẩm thấu vào lòng người dân Việt. Do đó, đối với một xã hội và nền văn hóa đã bao đời chịu ảnh hưởng sâu đậm của Nho giáo và Phật giáo như nước ta thì nội dung câu nói của nhà bác học Einstein, bên cạnh ý nghĩa triết học, còn mang ý nghĩa thực tiễn.
Với vô lượng pháp môn, Phật pháp luôn đáp ứng được vô lượng căn cơ của chúng sinh tìm cầu giác ngộ. Thế giới Hoa Nghiêm đem lại cho con người một kiến trúc vũ trụ vĩ đại; tư tưởng Bát Nhã đưa con người vào một thế giới siêu việt nhị biên; pháp môn Tịnh độ giúp mọi người tìm được an lạc tâm linh bằng cách niệm hồng danh chư Phật; Thiền tông đem lại một nhãn quan bình đẳng giữa Sinh Tử với Niết Bàn; Tứ diệu đế và Bát chính đạo chỉ ra chân tướng của cuộc sống, đồng thời vạch ra con đường để con người theo đó mà đi đến giải thoát; thuyết Thập nhị nhân duyên trình bày toàn bộ vũ trụ theo một cấu trúc toàn bích, trong đó mọi sự vật đều liên quan chặt chẽ với nhau theo luật nhân quả. Phật pháp đem đến cho nhân loại một cái nhìn như thực về bản chất vô thường của cuộc sống để con người có thể từ bỏ tham dục và mở rộng lòng ra với mọi người. Mỗi cá nhân như một viên gạch, muốn gắn kết tất cả các viên gạch đó lại với nhau để kiến tạo nên một ngôi nhà chung mang tên Nhân Loại, thì con người phải cần đến chất xi măng, đó là tâm Đại Bi của Phật pháp hoặc lòng Bác Ái của chúa Jésus. Nhưng trước hết và trên hết, đạo Phật vạch ra chánh đạo để con người tìm về phần tối linh trong tự thân, đó là Phật tính. Trong vũ trụ không có gì là tối linh ngoài cái tối linh trong tâm ta. Giáo lý về Phật tính sẽ góp phần nâng cao tầm nhận thức để con người xác lập được một thế giới quan và một nhân sinh quan khoan dung, thấm nhuần hương vị giác ngộ và từ bi của đạo Phật. Chỉ những nền đạo lý xuất phát từ cội nguồn sâu thẳm của tâm linh mới có thể tác động sâu xa đến xã hội được.
Kể từ khi ánh sáng giác ngộ từ Tuệ trí siêu việt của đức Phật bừng lên dưới gốc cây Bồ Đề cách đây hơn hai ngàn năm, cho đến nay nó vẫn tiếp tục tỏa sáng những chân trời tư tưởng và tâm linh của nhân loại. Tại những thời buổi điên đảo nhất hay tại những “chân trời u ám nhất” như hiện nay, thì ánh sáng đó lại càng cần thiết hơn nữa cho xã hội chúng ta, cho toàn nhân loại, để chúng ta có thể cảm nhận được – như lời thánh Gandhi- “niềm tin lại bừng lên sáng chói và cứu rỗi chúng ta”.
Hàng ngàn năm qua, tiếng chuông chùa trong bóng chiều hôm đã đồng vọng như một sức mạnh tâm linh bàng bạc trong lòng người dân Việt, thì bây giờ chúng ta còn cần nó vang vọng hơn nữa để cảnh tỉnh con người ra khỏi bến mê, để hướng thiện và cùng nhau xây dựng lại từ những muôn ngàn đổ vỡ. Nhưng vấn đề đặt ra là liệu có bậc long tượng nào trong Phật giáo hiện nay hội đủ tâm lực, trí lực và pháp lực trong việc hoằng dương Chánh pháp để giúp điều đó trở thành hiện thực? Câu trả lời vẫn còn đang nằm ở phía trước.
Cuối cùng, bài viết xin được kết thúc bằng lời nói của bác sĩ P.Dahlke:
“Sự thô bạo hung ác được ướp hương hoa của nền văn minh chúng ta đặt nền tảng trên những nhận thức sai lầm về ý nghĩa cuộc sống, từ đó đã kéo theo sự đánh giá sai lầm về những giá trị của cuộc sống. ….
Chính ở điểm này giáo lý đức Phật đã đến như một bậc đạo sư, một nhà giáo dục, một nhà cách mạng thay đổi các giá trị, tóm lại như là phúc âm cho tư tưởng và tạo ra một bước ngoặt mới cho “cuộc đấu tranh sinh tồn” mù quáng, mà tất cả chúng ta đều lệ thuộc vào như những kẻ điên cuồng.”
Vai trò của đạo Phật trong xã hội hiện nay
Tác giả: Huỳnh Ngọc Chiến
It is when the horizon is darkest and human reason is beaten down to the ground that the faith shines brightest and comes to our rescue.
(Chính khi chân trời trở nên u ám nhất và khi lý trí con người bị đập vỡ nát tan tành thì niềm tin lại bừng lên sáng chói và cứu rỗi chúng ta.)
Mahatma Gandhi
Sự băng hoại đạo đức, sự phá sản những giá trị tinh thần trong xã hội chúng ta hiện nay đang gióng lên những hồi chuông báo động. Xã hội chúng ta đang đứng trước những cơn địa chấn tinh thần khiến toàn thể toà lâu đài đạo lý của cha ông bị lung lay dữ dội. Bức tranh truyền thống đạo lý tốt đẹp bao đời đã loang lở quá nhiều. Luân thường bị đảo lộn, giềng mối bị xới tung. Từ gia đình đến học đường, từ cá nhân đến xã hội, đâu đâu cũng có thể thấy những mảng xám đen về đạo đức. Bạo lực, giết chóc, tệ nạn xã hội diễn ra hằng ngày như cơm bữa. Con người đâm ra dửng dưng trước mọi biến cố. Những tin tức đáng kinh hãi về vấn đề đạo lý đăng tải trên báo cũng chỉ được đọc với thái độ hững hờ, như tin móc túi hay giật dọc. Mấy chục năm qua, đời sống vật chất tuy có được nâng cao, nhưng chua xót thay khi đời sống tinh thần lại ngày càng xuống dốc. Ngay cả giáo dục và y tế -hai môi trường được xem như là sự phản ánh lương tri của mọi xã hội trong mọi thời đại- cũng diễn ra cảnh bạo lực, thậm chí còn bị biến thành một thương trường suy đồi về đạo đức. Trí tuệ và mạng sống con người – những thứ được xem là cực kỳ cao quý – cũng trở thành những món hàng kinh doanh, được mua bán bằng tiền, thậm chí được trao đổi bằng cả thân xác. Người người đều hối hả chạy theo cuộc sống vật chất, dùng mọi thủ đoạn để chiếm hữu, để hưởng thụ, để tranh danh đoạt lợi, biến cuộc đời thành một bãi chiến trường theo kiểu “đấu tranh sinh tồn” của Darwin. Mọi giá trị tinh thần, mọi tiêu chuẩn đạo lý, mọi thước đo nhân phẩm trong cuộc sống dường như đều được quy thành vật chất, và giá trị con người được tính tỷ lệ thuận theo độ dày của những xấp giấy bạc.
Đằng sau sự háo nhoáng giả tạo, quá đỗi giả tạo của một xã hội chỉ biết chú tâm vào tiêu dùng và hưởng thụ, là cảnh sa mạc hoang lương của đời sống tinh thần và đạo lý. Chưa bao giờ sinh hoạt tinh thần và đời sống văn hóa lại xuống thấp đến thế. Khoảng mười năm gần đây, đi đâu chúng ta cũng dễ dàng thấy khẩu hiệu “văn hóa” ở khắp mọi nơi. Gia đình văn hóa, tổ dân phố văn hóa, xóm văn hóa, thôn văn hóa, làng văn hóa, bưu điện văn hóa, công viên văn hóa …. Chữ “văn hóa” đã bị lạm dụng đến mức chúng ta có thể dễ dàng cảm nhận được đời sống văn hóa của chúng ta đã có vấn đề trầm trọng, như một người đau răng thì chỉ luôn nghĩ đến cái răng đau. Chưa bao giờ tính ích kỷ cá nhân, sự dửng dưng vô cảm, sự tham lam chiếm hữu và hưởng thụ, sự dối trá lọc lừa, sự tàn bạo nhẫn tâm và sự trơ tráo lại tràn lan trong xã hội chúng ta nhiều đến thế, chưa bao giờ tình người lại thiếu vắng đến thế. Cuộc sống thực dụng, quá đỗi thực dụng, đã khiến tiếng những đồng tiền rơi xủng xoẻng át đi tiếng nói của lương tri. Thủ đoạn lọc lừa cùng sự trơ tráo đã trở thành tấm giấy thông hành trong cuộc sống, khiến ai nấy đều co cụm lại để tìm chỗ trú an toàn, và nhìn chung quanh với đôi mắt ngờ vực, đầy ác cảm.
Mọi nỗ lực vãn hồi đạo lý theo kiểu khẩu hiệu hoặc phong trào đều như muối bỏ bể, vì chúng ta chỉ giải quyết được phần ngọn chứ không phải phần gốc, giống như để làm nguội một nồi nước đang sôi trên bếp, thay vì tắt lửa, chúng ta chỉ biết tất bật châm thêm nước. Châm nước xong, nồi nước có thể dịu lại một lúc nhưng rồi sẽ tiếp tục sôi. Căn nguyên sâu xa, theo thiển ý, là do xã hội chúng ta hiện nay đang thiếu một sự định hướng tinh thần chân chính. Có một giai đoạn chúng ta đã quá vội vã và hăng hái một cách sốc nổi trong việc đạp đổ những giá trị văn hóa và tâm linh truyền thống để thay thế vào đó bằng những giá trị được cho là mới mẻ. Chúng ta xóa bỏ những cái “bất biến” để chỉ chạy theo những thứ “tùy duyên”. Chúng ta nghĩ rằng có thể xây dựng được một xã hội hoàn toàn mới bằng niềm tin tất thắng đầy cảm tính ngây thơ, bằng những lý luận chắc nịch tưởng chừng không thể lay chuyển nổi. Chúng ta dự đoán đà tiến hóa của lịch sử chỉ thuần bằng lý luận theo kiểu lập trình trong máy tính, để rồi khi cơn thủy triều thời gian nhanh chóng cuốn sạch đi những gì ta khổ công tạo dựng và cố gắng níu kéo bằng mọi cách, ta mới thấy rằng cuộc sống vẫn cứ âm thầm trôi theo một chiều khác hẳn với những bài bản trong lý thuyết. Khi cơn thủy triều thời gian rút xuống, dưới đáy cuộc sống lại hiện ra, ẩn hiện trong những lớp phù sa, những giá trị mà ta ngỡ rằng có thể vất bỏ đi. Giờ đây chúng ta lại hối hả đi nhặt nhạnh những mảnh vụn đó để chắp vá lại, với ước mong tái tạo được hình tượng ban đầu. Nhưng những hình tượng chắp vá đó chỉ còn là hình thức, mà đã đánh mất hoàn toàn phần tinh thần, là phần đem lại giá trị đích thực cho hình tượng đó. Xã hội chúng ta đang có nguy cơ đối diện với cái mà thánh Gandhi gọi là “chân trời đen tối nhất”, hay một biến cố tương tự với cái mà mà triết gia Heidegger gọi là “sự tăm tối âm u trên cõi thế” (die Verdüsterung der Welt), nhưng thực tế còn nguy hiểm hơn, khi bên cạnh sự suy đồi tinh thần thì “sự tăm tối âm u” đó lại kéo theo sự suy đồi của đạo lý.
Suốt một thời gian dài, chúng ta chưa hiểu đầy đủ về bản chất con người, nên chúng ta muốn vượt qua giai đoạn làm người để trở thành những anh hùng. Chúng ta tưởng có thể dùng lý trí để xoay chuyển càn khôn, đem lý luận để chuyển dời lịch sử. Những gì không hiểu được đều bị chúng ta phủ định sạch trơn, theo kiểu vua quan triều Nguyễn cho rằng cái đèn chúc ngược mà vẫn sáng chỉ là trò lừa bịp, hay cậu học trò cấp 2 cho rằng các phương trình vi phân chỉ là điều vô bổ. Sự tự mãn đã đẩy xã hội chúng ta rơi vào sự ấu trĩ, giống như một đứa bé, sau khi dùng ná cao su bắn chết được một con chim, bèn giương ná lên trời và tin rằng có thể bắn rụng cả vầng trăng. Với những quan điểm cực đoan về tôn giáo và mơ hồ về sự phát triển thực tế của cuộc sống, chúng ta vội vã phủ nhận những giá trị văn hóa tâm linh, vì cho rằng lòng kính tín siêu nhiên có thể trói buộc tâm thức con người trong sợ hãi, không cho con người tiến đến tự do. Chúng ta không hiểu rằng làm một con người chân chính khó hơn làm một thiên thần. Chừng nào con người còn là con người với tham- sân-si, thì sự sợ hãi từ lòng kính tín siêu nhiên đó là điều cần thiết giúp con người biết kiềm chế dục vọng để tự mình đi theo con đường đạo lý, giống như một cậu học trò nghịch ngợm không dám làm điều càn quấy trước vị thầy đức độ nhưng nghiêm khắc. Lịch sử nhân loại cho thấy lòng kính tín siêu nhiên, mặc dù lắm phen bị lạm dụng, vẫn góp phần điều hòa được những giếng mối đạo lý trong xã hội, giúp xã hội ổn định mà không cần đến sự ước thúc của pháp luật. Tín đồ Thiên chúa giáo sẽ khoan hòa hơn nếu biết tin sợ đức Chúa Trời, tín đồ Tin Lành sẽ nhân ái hơn nếu biết tin sợ đức Jésus, tín đồ Hồi giáo sẽ tốt đẹp hơn nếu biết tin sợ đức Ala, tín đồ Phật giáo sẽ thuần thành hơn nếu biết tin vào Phật pháp. Ở xã hội Á Đông, hơn mấy ngàn năm qua, nhiều người dù không theo một tôn giáo nào thì vẫn tin vào ông Trời và sợ luật nhân quả. Ngay cả kẻ nắm toàn quyền sinh sát trong tay như các ông vua Trung Quốc thời phong kiến vẫn phải có đấng Tối cao để sợ. Nhiều người không hiểu thâm ý của hai chữ “Thiên tử ” nên vội vàng cho đó là lối thậm xưng đầy huênh hoang của kẻ nắm quyền cai trị. Vua là kẻ nắm toàn quyền sinh sát trong tay, không có gì khiến “ông trời con” kia sợ hãi nữa. Mà khi không có gì để sợ hãi thì “ông trời con” kia sẽ biến thành thiên thần hoặc biến thành ác quỷ, mà chắc chắn đến 99,9% là biến thành ác quỷ, nên người xưa phải đặt ra khái niệm “thiên tử” để khống chế vua. Mỗi khi có thiên tai bão lụt đẩy nhân dân vào cảnh khốn khó, các vị quan thường vin vào cớ đó, xem như là lời răn đe cảnh cáo của “ông bố vua ” là ông Trời để can ngăn vua bớt hoang dâm, mà lo tu nhân tích đức. Vua vẫn phải có cái để sợ là ông Trời thì mới có thể tự kiềm chế được mình mà thành ông vua tốt. Khi con người luôn thấy mình là những kẻ anh hùng vĩ đại, muốn bắt lịch sử và vũ trụ phải cúi đầu, thì họ sẽ không sợ gì cả. Nhưng khi một xã hội không còn cái gì để sợ nữa, khi không còn một thế lực siêu nhiên nào có thể ước thúc hành vi con người được nữa thì xã hội đó sẽ có nguy cơ đối mặt với sự hỗn loạn và suy đồi. Một xã hội chỉ có thể sống an vui tự tại mà không cần đến sự kính tín siêu nhiên, khi nào xã hội đó gồm toàn những triết nhân thấu đạt được lẽ sinh tử huyền vi hay những bậc chân nhân giác ngộ.
Có một thời, thế giới phương Tây tôn vinh thuyết tiến hóa Darwin, xem như là một thắng lợi vẻ vang của nhân loại. Sinh học chi phối tư tưởng triết học phương Tây trong thế kỷ 19, giống như vai trò của toán học trong thế kỷ 17. Con người tưởng mình sẽ là những chủ nhân ông thực sự của vũ trụ để kiến tạo nên một thế giới hoàn hảo, khi giao trả Thượng đế lại cho những kẻ được xem là mê tín nhảm nhí. Nhưng những bậc trí giả phương Tây đã nhanh chóng nhận ra rằng học thuyết của Darwin, bên cạnh những ý nghĩa tích cực về khoa học, đã vô tình góp phần đẩy xã hội phương Tây đến bờ vực thảm họa về đạo đức, khi những giá trị tối thượng của cuộc sống được đánh giá theo những tiểu chuẩn lạnh lùng của sinh học. Thần thánh bỏ đi, nhường chỗ cho lý trí và quy luật sinh học, điều đó đã khiến cõi thế mất đi sự hòa điệu và biến thành một bãi chiến trường khốc liệt.
Văn hào Pháp Voltaire có một câu nói nổi tiếng “Nếu Thượng đế không tồn tại thì ta nên tạo ra Ngài” (Si Dieu n’existait pas, il faudrait l’inventer). Câu này đã được văn hào Dostoievski triển khai như là tư tưởng chủ đạo trong tiểu thuyết vĩ đại “Anh em nhà Karamazov”. Văn hào Nga này đã cảnh báo nếu con người sống với tư tưởng “nếu không có Thượng đế thì tất cả đều được phép làm” (Si Dieu n’existe pas, tout est permis) thì sẽ không có gì có thể ngăn cản được con người tự tàn sát lẫn nhau cho đến kẻ cuối cùng, và ông cho rằng “Ngày phán xét cuối cùng” phải được đưa ra như là điểm dừng cho sự xuống dốc của đạo đức. Nếu tôi sinh ra một cách ngẫu nhiên để chỉ sống một cuộc đời ngắn ngủi, rồi sau đó là Hư vô theo kiểu “Après nous le déluge!”, thì việc gì tôi lại không hưởng thụ, cho dầu sự hưởng thụ đó được trả giá bằng nước mắt, bằng sự khổ đau thậm chí bằng cả cái chết của những người đồng loại? Nhân vật Smerdiakov giết cha nuôi là Fiodor Karamazov để cướp của cũng chỉ vì cái tư tưởng “Tout est permis” khủng khiếp này. Trong thời gian qua, đã có không ít những Smerdiakov gây nên biết bao chuyện hãi hùng trong xã hội chúng ta.
Trừ những bậc chân sư giác ngộ hoặc những kẻ vĩ cuồng ấu trĩ, con người phần lớn vẫn là những sinh vật yếu đuối, về thể xác lẫn tinh thần. Khi bị quăng ném vào “cõi người ta”, con người thường thấy mình quá bé nhỏ nên đâm ra hoang mang giữa vũ trụ mịt mùng, do đó họ vẫn luôn cần đến điểm tựa là một đấng Siêu nhiên. Triết học hay tôn giáo ra đời cũng chỉ để giúp con người nguôi đi phần nào cái cảm thức hoang mang đó, trong việc tìm ra một chỗ “an thân lập mệnh”. Ngay cả những kẻ thời trai trẻ xông xáo trong đấu trường của Lý trí, chỉ tin duy nhất vào khoa học, thì đến lúc cuối đời vẫn cần đến một đức tin. Lý trí dù mãnh liệt đến mấy cũng khó lòng giúp con người thoát được cảm thức hoang mang trước Hư vô, khi cận kề cái chết, hoặc khi đối mặt với những vấn đề phi lý trong cuộc sống, mà ta không sao lý giải nổi. Đó là cơ duyên để chúng ta lắng nghe thế giới tâm linh lên tiếng. Chỉ khi nào mạch nguồn tâm linh sâu thẳm trong mỗi người được khai mở thì tâm thức người đó mới thực sự được nâng cao để nhận ra những giá trị chân chính của cuộc sống. Những giá trị đó không phải được tôn vinh bằng những danh từ sáo rỗng, mà phát khởi từ những gì sâu thẳm nhất trong ta, do đó nó mới có giá trị trường cửu. Khi nào chúng ta chỉ biết chạy theo những giá trị phù du của vật chất, xem đó là những giá trị tối thượng trong cuộc sống thì tâm trí chúng ta vẫn luôn hỗn loạn bởi khát vọng chiếm hữu và hưởng thụ. Và sự hỗn loạn trong tâm trí chúng ta phóng chiếu thành sự hỗn loạn trong xã hội. Do đó, sự hỗn loạn trong xã hội chỉ có thể chấm dứt khi sự hỗn loạn trong nội tâm mỗi người chấm dứt. Mà sự hỗn loạn trong nội tâm mỗi người chỉ có thể chấm dứt khi con người có được sự định hướng tinh thần chân chính. Để góp phần vãn hồi sự suy đồi đạo đức trong xã hội hiện nay, có lẽ chúng ta phải cần đến một cái gì đó vượt lên trên lý trí : tiếng nói của tôn giáo trong thế giới tâm linh.
Chừng nào con người còn tồn tại trên trái đất, chừng nào những cảm thức về sự phi lý diêu mang của cõi thế, những cảm thức hoang mang về vũ trụ mịt mùng còn nảy sinh, có nghĩa là những khắc khoải siêu hình còn tồn tại, thì ngày đó tiếng nói của tôn giáo vẫn còn vang lên trong thế giới tâm linh. Mọi tôn giáo chân chính luôn nâng cao đời sống tâm linh cho con người, giúp con người hướng thiện và đem lại bình yên cho cõi thế. Nó chỉ trở nên suy đồi khi bị lạm dụng để biến thành một thế lực phục vụ cho thần quyền hoặc thế quyền.
Để có thể cứu vãn nền đạo lý đang có nguy cơ đổ nát, phải chăng đã đến lúc xã hội chúng ta cần lắng nghe tiếng nói của tâm linh? Thế nhưng giữa thời đại mà khoa học được xem như chiếc đũa vạn năng để giải quyết nhiều vấn nạn cho nhân loại, thì liệu có một tôn giáo nào có thể giúp chúng ta kiến tạo nên một nhân sinh quan hay một thế giới quan khoa học mà vẫn đáp ứng được những khát vọng tâm linh cùng những yêu sách về đạo lý? Theo nhà vật lý thiên tài Einstein thì câu trả lời sẽ là Phật giáo. Câu trả lời này đã gây ra nhiều tranh luận về nguồn gốc và nội dung của nó. Người viết đã đề cập đến vấn đề tế nhị này một lần, nên ở đây chỉ xin nhấn mạnh một điểm : tại Việt Nam, Phật giáo gần như đã gắn liền với lịch sử dân tộc, giống như Thiên chúa giáo với lịch sử các dân tộc Âu châu, như Hồi giáo với lịch sử các nước khối Á Rập hay vùng Trung Á, cho nên Phật pháp dễ dàng thẩm thấu vào lòng người dân Việt. Do đó, đối với một xã hội và nền văn hóa đã bao đời chịu ảnh hưởng sâu đậm của Nho giáo và Phật giáo như nước ta thì nội dung câu nói của nhà bác học Einstein, bên cạnh ý nghĩa triết học, còn mang ý nghĩa thực tiễn.
Với vô lượng pháp môn, Phật pháp luôn đáp ứng được vô lượng căn cơ của chúng sinh tìm cầu giác ngộ. Thế giới Hoa Nghiêm đem lại cho con người một kiến trúc vũ trụ vĩ đại; tư tưởng Bát Nhã đưa con người vào một thế giới siêu việt nhị biên; pháp môn Tịnh độ giúp mọi người tìm được an lạc tâm linh bằng cách niệm hồng danh chư Phật; Thiền tông đem lại một nhãn quan bình đẳng giữa Sinh Tử với Niết Bàn; Tứ diệu đế và Bát chính đạo chỉ ra chân tướng của cuộc sống, đồng thời vạch ra con đường để con người theo đó mà đi đến giải thoát; thuyết Thập nhị nhân duyên trình bày toàn bộ vũ trụ theo một cấu trúc toàn bích, trong đó mọi sự vật đều liên quan chặt chẽ với nhau theo luật nhân quả. Phật pháp đem đến cho nhân loại một cái nhìn như thực về bản chất vô thường của cuộc sống để con người có thể từ bỏ tham dục và mở rộng lòng ra với mọi người. Mỗi cá nhân như một viên gạch, muốn gắn kết tất cả các viên gạch đó lại với nhau để kiến tạo nên một ngôi nhà chung mang tên Nhân Loại, thì con người phải cần đến chất xi măng, đó là tâm Đại Bi của Phật pháp hoặc lòng Bác Ái của chúa Jésus. Nhưng trước hết và trên hết, đạo Phật vạch ra chánh đạo để con người tìm về phần tối linh trong tự thân, đó là Phật tính. Trong vũ trụ không có gì là tối linh ngoài cái tối linh trong tâm ta. Giáo lý về Phật tính sẽ góp phần nâng cao tầm nhận thức để con người xác lập được một thế giới quan và một nhân sinh quan khoan dung, thấm nhuần hương vị giác ngộ và từ bi của đạo Phật. Chỉ những nền đạo lý xuất phát từ cội nguồn sâu thẳm của tâm linh mới có thể tác động sâu xa đến xã hội được.
Kể từ khi ánh sáng giác ngộ từ Tuệ trí siêu việt của đức Phật bừng lên dưới gốc cây Bồ Đề cách đây hơn hai ngàn năm, cho đến nay nó vẫn tiếp tục tỏa sáng những chân trời tư tưởng và tâm linh của nhân loại. Tại những thời buổi điên đảo nhất hay tại những “chân trời u ám nhất” như hiện nay, thì ánh sáng đó lại càng cần thiết hơn nữa cho xã hội chúng ta, cho toàn nhân loại, để chúng ta có thể cảm nhận được – như lời thánh Gandhi- “niềm tin lại bừng lên sáng chói và cứu rỗi chúng ta”.
Hàng ngàn năm qua, tiếng chuông chùa trong bóng chiều hôm đã đồng vọng như một sức mạnh tâm linh bàng bạc trong lòng người dân Việt, thì bây giờ chúng ta còn cần nó vang vọng hơn nữa để cảnh tỉnh con người ra khỏi bến mê, để hướng thiện và cùng nhau xây dựng lại từ những muôn ngàn đổ vỡ. Nhưng vấn đề đặt ra là liệu có bậc long tượng nào trong Phật giáo hiện nay hội đủ tâm lực, trí lực và pháp lực trong việc hoằng dương Chánh pháp để giúp điều đó trở thành hiện thực? Câu trả lời vẫn còn đang nằm ở phía trước.
Cuối cùng, bài viết xin được kết thúc bằng lời nói của bác sĩ P.Dahlke:
“Sự thô bạo hung ác được ướp hương hoa của nền văn minh chúng ta đặt nền tảng trên những nhận thức sai lầm về ý nghĩa cuộc sống, từ đó đã kéo theo sự đánh giá sai lầm về những giá trị của cuộc sống. ….
Chính ở điểm này giáo lý đức Phật đã đến như một bậc đạo sư, một nhà giáo dục, một nhà cách mạng thay đổi các giá trị, tóm lại như là phúc âm cho tư tưởng và tạo ra một bước ngoặt mới cho “cuộc đấu tranh sinh tồn” mù quáng, mà tất cả chúng ta đều lệ thuộc vào như những kẻ điên cuồng.”
NGUỒN : DIENDANYKHOA.COM
NỖI ĐAU NGƯỜI THẦY THUỐC
PHẢI CHẾT
Mạnh Quân
Đây là chuyện thật tới… 70%, trừ một số phần phải bịa về hoàn cảnh xuất phát câu chuyện. Nhưng đáng ra gọi là một ghi chép hơn. Nhân vật trong bài viết là mà bà nằm cùng phòng bệnh với mẹ tôi ở bệnh viện Đức Giang, Long Biên, Hà Nội. Khi tôi đến phòng bệnh mẹ tôi năm trước thì bà bệnh nhân này đã được chuyển đi, sau lần tự tử thứ 3. Nhưng câu chuyện về tên bác sĩ thú vật đó (nghe kể là bác sĩ của bệnh viện 103) vẫn làm cho những người trong phòng xúc động. Hôm nay tôi về nhà, mẹ tôi đọc truyện này xong bảo… tạm được. Hê hê. Nhưng còn thiếu một số chi tiết như sau khi nhận tiền lần 2, tay bác sĩ đếm xong, hỏi: Bao tiền đây? Người nhà bệnh nhận đáp: 7 triệu. Hắn nói: Tạm được, nếu cứ đưa như thế lúc đầu có phải đã tốt không rồi mới quay vào mổ. Mẹ tôi nói, bà nằm cạnh giường chị kia, rất khổ vị chị ta không có lúc nào ngủ được vì sau khi mổ hỏng, cơn đau lúc nào cũng xói như kim châm khắp đỉnh đầu và luôn hỏi mọi người: có cách nào chết cho nhanh không, tôi khốn khổ quá.Tiếc là, cái thứ mình viết này không được giống truyện ngắn cho lắm. May mà Thời Nay thương tình đăng cho, tuy nhiên, cũng lưu ở đây để nhắc nhở mình rằng: đừng bao giờ quay lại với ý tưởng viết văn nữa. Thê thảm lắm. Ha ha
Phải chết
Người phụ nữ oặt oẹo nằm trên sàn nhà. Cả người đầm đìa mồ hôi, chị vặn vẹo, lết đi từng phân một để cố gắng trở lại chiếc ghế, nơi vừa lúc trước, chị đã phải ngã khuỵu xuống, lăn ra cách xa gần một mét vì một cơn đau xói lên tận đỉnh óc. Phải, chị phải lết tới đó, dù chỉ vài găng tay nữa thôi, để bằng mọi cách bám lấy, đứng lên, đưa tay lên phía trên. Ở đó, đã treo sẵn một sợi dây dù, nhỏ thôi nhưng phải bằng cả một cố gắng phi thường trong hơn một giờ đồng hồ lúc trước, chị mới vắt ngang được qua cái móc treo quạt trần. Đó là số phận của chị, nơi để chị kết thúc mọi nỗi đau đớn, khổ sở kéo dài hàng tháng mà như hàng thế kỷ qua ở chị.
Đây là lần thứ 4 chị tìm đến cái chết. Cả 3 lần trước, khi thì đang chuẩn bị hành động, thì việc chị định làm đều đã bị người nhà hoặc bà hàng xóm phát hiện. Tất cả lại xúm sít, trách móc, khuyên can. Nhưng chẳng ai khuyên được chị nữa. Cuộc sống với chị, thế là đã hết rồi. Các bác sĩ nói rằng, cuộc sống còn lại của chị chỉ còn đo được bằng một, hai năm là cùng. Chủ yếu phải nằm trên giường vì tuy có thể còn đi lại được chút ít nhưng, với chị, mỗi lần cố gắng đứng dậy để làm gì đó là vô cùng khó khăn với những cơn đau xé dọc sống lưng. Chẳng còn có thể làm gì, chị sống sao sướng bằng chết. Chỉ có cái chết mới giải thoát cho chị khỏi kiếp sống trần ai này.
Cách đây chừng 4 tháng, chị vẫn là một người phụ nữ còn khỏe mạnh. Khi ấy, chị là một thành viên của đội quân cửu vạn đông đúc, chuyên chở hàng từ bên kia biên giới qua cửa khẩu Tân Thanh-Lạng Sơn. Công việc hàng ngày của chị là gồng lưng kéo cỗ xe nặng kể đến cả tấn hàng nào là quần áo, vải vóc, tivi, đầu đĩa, loa đài, máy bơm…từ cửa khẩu bên kia về đến tận chợ bên này. Dù có người đẩy sau nhưng chị vẫn luôn hết sức đề kéo, ghìm 2 cái càng xe phía trước luôn có xu hướng chổng vọt lên trời. Mỗi ngày, khi nhận tiền công trở về, là cũng lúc chập tối. Khắp người mở rời rã, đau ê ẩm, nhất là sống lưng, cổ và 2 bên cánh tay.
Chị phải lao động cật lực để hàng tháng đưa tiền về phụ với chồng nuôi 3 đứa con. Một đang học đại học, một mới 13 tuổi, đang học cấp 2 và một đứa mới 9 tuổi, học cấp 1. Chồng chị, già hơn chị gần chục tuổi làm nghề mộc nhiều năm ngay trong làng nhưng tiền công hàng tháng hầu như chỉ đủ cho chính ông ăn và cho chứng nghiện rượu của ông ấy. Mọi thứ đều trông vào số tiền chị kiếm được từ nơi cửa khẩu này. Đúng thời hàng hóa, buôn lậu qua biên giới 2 bên như thác lũ nên mình chị, tháng nào cũng kiếm được đủ tiền lo ăn, học cho 2 đứa nhỏ nhất. Còn thằng lớn, học đại học nhưng đã tự ra ngoài làm thêm ở một xưởng giép gia công để kiếm tiền tự nuôi mình và nộp học phí hàng tháng.
Vào một ngày bình thường, rủi cho chị, một thùng hàng toàn đồ điện tử, có lẽ là mấy cái đầu đĩa DVD buộc phía trên nhưng chưa chặt lắm trên cái xe mà chị đang kéo phía trước lại trượt ra đằng trước, rơi, giáng thẳng vào lưng chị. Một cơn đau điếng người làm chị choáng váng. Cơn đau như muốn gãy sống lưng rồi lan ra khắp toàn thân. Những người bạn cùng nhóm với chị đã nhanh chóng đưa chị về bệnh viện Bắc Giang, nơi không xa nhà chị lắm để gia đình chị tiện tới chăm sóc. Nhưng xem chừng cú rơi khá mạnh làm tổn thương nặng cột sống của bệnh nhân, các bác sĩ bệnh viện tỉnh nói chị nên xuống Hà Nội tìm bệnh viện có chuyên khoa để phẫu thuật và điều trị.
Được vài người quen mách nước, gia đình chị đã tìm được một bệnh viện đa khoa lớn, được tiếng là có nhiều bác sĩ chuyên khoa giỏi mà chi phí không quá tốn kém. Theo chẩn đoán của các bác sĩ, chị bị tổn thương cột sống và thoát vị đĩa đệm. Cần phải tiến hành một ca mổ để xếp lại phần xương đệm.
Mới lần đầu thấy mặt vị bác sĩ sẽ trực tiếp chỉ đạo ca mổ, chị đã thấy ớn lạnh. Cho dù trong đời, đã làm ở nhiều nơi: chợ búa, cửa khẩu, bến xe… biết mặt toàn những thành phần bất hảo: trộm cướp, nghiện hút, dân buôn…Nhưng chẳng có khuôn mặt nào lạnh lẽo, không có chút sinh khí, không thể hiện là hiền hay dữ ở người bác sĩ trông cũng đã nhiều tuổi này.
Chị nhớ, lần đầu khi ông ta đi vào phòng khám, đã đặt cả mấy ngón tay xương xẩu, lạnh ngắt ấn sâu vào lưng chị làm chị đau điếng. Lão nói: “Đau đâu, đây à, người nhà đâu ?”.
Khi kết quả chẩn đoán được công bố, cũng không biết thoát vị đĩa đệm, chấn thương cột sống là nguy hiểm thế nào nhưng chị cũng mường tượng là căn bệnh chị mắc phải là rất nguy hiểm. Bệnh phải mổ, nhưng khi nghe chồng chị nói về khoản viện phí chẳng biết chị đã buột miệng than thở câu gì, ông bác sĩ nghe câu được câu chăng đã phán một câu: “ Không tiền thì thôi, nghỉ mổ nhé. Về quê nằm nhà, chồng nuôi !”. Rồi, phất phơ 2 vạt áo blue trắng, ông ta bỏ ra ngoài.
Không mổ sao được, nếu chị không bình phục thì con chị ai nuôi bây giờ ?. Những người bà con, họ hàng của chị khi thăm nom chị ở nhà và hôm đầu tại bệnh viện, mỗi người một ít cũng đã gom góp cho chị đủ một khoản để trang trải. Giờ thì chỉ chờ ngày mổ và ccả nhà chị chỉ còn biết cầu trời khấn phật cho ca mổ thành công.
Tuy nhiên, cái cảm giác rằng vận đen của mình đã đến, rằng ca mổ sẽ không thành công khi chị thấy gương mặt lạnh băng, cáu bẳn của tay bác sĩ và cả kíp mổ đã trở thành sự thật. Nhưng người thân thiết, quen biết chị chờ đợi tin sau mổ đều thấy ngạc nhiên vì sao có tiền bồi dưỡng rồi mà cả một cái tin thông báo trong hồ sơ khám bệnh về tình trạng bệnh nhân cũng không rõ ràng. Chỉ có chồng chị hiểu. Mặt ông bỗng nghệt ra. Rồi vùng lên, ông chạy ra ngoài, vác hòn đá xông vài phòng tìm tay bác sĩ. Nhưng bảo vệ đã kịp ngăn ông lại, đẩy ông ra ngoài.
Khi bình tĩnh trở lại, được gặp lại vợ mình, lúc chị đã tỉnh lại, ông quỳ xuống, đấm thùm thụp vào ngực, mặt mình xin vợ tha thứ. Ông đã không làm tốt việc chị giao, là việc đưa tiền bồi dưỡng cho bác sĩ và nhóm phụ mổ-một việc mà muôn người hiện nay vào tình cảnh như thế này thường phải làm. Vì tiếc số tiền dành dụm được, ông đã bớt ra một nửa số tiền để cất đi và điều này, chắc chắn đã làm tay bác sĩ kia tức giận.
Ông nói, ông sẽ đi kiện tay bác sĩ khốn nạn đó tới cùng và phải buộc bệnh viện cử nhóm bác sĩ có chuyên môn nhất phẫu thuật lại cho chị. Đau đớn và thất vọng tận cùng nhưng với bản tình hiền lành, hầu như chưa cãi vã với ai bao giờ, chị nhớ, chị đã nói với chồng: “Mình đứng lên và đừng làm thế nữa đi. Bác sĩ họ vào, họ nghe rồi cũng không ra làm sao. Có lẽ số phận của em nó vậy. Bây giờ có kiện cũng chưa giải quyết được gì. Phải tìm cách nào để khỏi bệnh đã, mình ạ”.
Không còn đủ tiền để làm theo lời khuyên của bác sĩ rằng, để chữa chị dứt hoàn toàn, phải sang Singapore phẫu thuật lại với số tiền tính ra ít nhất vài trăm triệu đồng. Số tiền ấy nhà chị làm sao có được ? Dù có bán cả nhà, đất đang ở đi cũng chưa đủ được một phần ba. Gia đình chị lại năn nỉ xin được phẫu thuật lại. Vẫn tay bác sĩ ấy và lần này, chị ruột của chị đã trực tiếp làm nhiệm vụ bồi dưỡng cho bác sĩ chính và ca mổ. Trước khi bắt đầu mổ, bác sĩ ra ngoài và lần này cẩn thận hơn, ông đếm tiền ngay tại chỗ. Rồi ngoắc tay đám phụ mổ vẫn nhìn ông chờ đợi, lão xỏ găng cùng cả nhóm rảo bước đi vào phòng mổ.
Tuy nhiên, kết quả dường như tồi tệ hơn. Bệnh viện đề nghị gia đình nhận chị về với lời khuyên là đưa về bệnh viện địa phương đề điều trị theo phương pháp đông y. Và cũng không có thêm một lời giải thích vì sao ca mổ tiếp sau vẫn không thành công.
Chẳng còn cách nào khác và cũng chẳng còn tiền, chồng chị và đứa con trai cả tạm thời nghỉ học để chăm mẹ đã đưa chị về bệnh viện huyện gần nhà. Ở đây cũng có phòng khám đông y. Vị trưởng khoa ở đây cũng tốt, và bằng kiến thức và kinh nghiệm trình độ cấp huyện của mình, ông cũng hiểu rằng, bệnh nhân của ông đã trải qua 2 cuộc phẫu thuật vô cùng tệ hại. Hậu quả của cả 2 ca mổ khi trước là đĩa đệm cũng chưa xếp lại được mà cột sống của bệnh nhân đang trong tình trạng rách màng cứng, gây rò rỉ dịch não tủy, đồng thời bị nhiễm trùng. Ông nói với chồng chị:
“Tôi rất thông cảm. Nhưng phải nói thẳng với anh là, bệnh chị nhà quá nặng. Theo quan sát của tôi thì bệnh của chị ấy biến chứng rồi, ảnh hưởng nặng đến thần kinh và bệnh nhân đã mất khả năng kiểm soát việc tiểu tiện, đại tiện. Nếu không điều trị tiếp thì khả năng sống được cũng rất thấp. Chúng tôi có thể chuyển vợ anh qua các khoa khác phẫu thuật lại một lần nữa để xếp lại đĩa đệm, giúp khắc phục được tình trạng nhiễm trùng, nhưng việc rách màng cứng hiện nay cũng gây biến chứng thì bệnh viện của chúng tôi không làm nổi mà tôi tin với dạng biến chứng này, hiện nay ở Việt Nam, không có bệnh viện lớn nào xử lý được”.
Chồng chị hoảng hốt: “Không thể có cách nào hồi phục được dù chỉ để đi đứng bình thường hay sao, thưa bác sĩ ?”
Ông bác sĩ bảo:“Vẫn có thể đi lại được đôi chút. Nhưng cơ bản là không thể nào được hồi phục, đi đứng được bình thường như trước đâu mà tuổi thọ của chị nhà chỉ có thể tính còn vài năm nữa là cùng. Khi phẫu thuật, khắc phục tình trạng nhiễm trùng xong thì anh đưa chị về khoa bên này, chúng tôi có thể giúp một phần hồi phục sức khỏe. Sau đó thì anh đưa chị về gia đình chăm sóc”.
Tuyệt vọng với những điều bác sĩ nói nhưng những người thân, họ hàng của chị cũng giúp thực hiện những đề nghị như của vị bác sĩ trưởng khoa đông y nọ. Bệnh viện tuyến huyện tuy nhếch nhác, nghèo nàn về dụng cụ, phương tiện, bác sĩ, y tá cũng có đòi hỏi nhất định về tiền bồi dưỡng thêm nhưng hóa ra cũng quá tệ so với nơi chị khám trên tuyến trung ương. Chỉ có điều, kết quả cuối cùng dành cho chị, y như lời ông bác sĩ đông y nói, chị không còn bị nhiễm trùng nhưng thời gian còn lại của cuộc đời, chủ yếu phải nằm dài trên giường . Có thể gượng dậy đi lại chút nhưng rất khó khăn và đau đớn. Bệnh viện huyện không thể giúp gì thêm.
Đó là tất cả việc dẫn đến việc chị phải tranh thủ lúc chồng đi vắng, những đứa bé của chị cũng đang đi học, mọi người đã lơi lỏng với việc đề phòng, tìm cách không cho chị có cơ hội tự tử để lại tìm đến cái chết ngày hôm nay. Phải chết, đó là nối tuyệt vọng nhưng là cách duy nhất để chị chấm dứt tất cả những nỗi khổ đau đến với chị trong những tháng ngày qua và cả những năm dài sắp tới. Hai đứa con còn bé của chị, chị mong, chúng sẽ được bà con, nội ngoại và rồi thằng anh lớn của chúng, sắp ra trường nuôi nấng. Chỉ cố thêm một chút thôi, quàng được cái vòng thòng lọng oan nghiệt kia qua cổ, mọi nỗi khổ đau sẽ đi qua với chị.
Chỉ chừng khoảng 10 phút sau, khi một người hàng xóm, như mọi khi, vẫn có lòng tốt qua thăm nom, giúp chị qua lại sang nhà để nói chuyện xem có giúp gì được không đã nhìn thấy người phụ nữ bất hạnh ấy lủng lẳng trên sợi dây treo giữa nhà. Đã quá muộn để cứu chữa. Mặt người phụ nữ treo cổ khi chết co rúm, lộ rõ nét đau đớn nhưng cũng vương vấn một nếp gì đó như sự hài lòng, mỉm cười với chính mình trước giây cuối cùng từ giã cõi đời.
Nhưng người phụ nữ ấy và tất cả người thân, người quen của chị có thể vẫn không biết rằng, ca mổ đầu của chị sở dĩ không thành công vì gã bác sĩ ở bệnh viện trung ương sau chỉ 10 phút đeo găng, tiến hành phẫu thuật đã bỏ ra ngoài, tức giận vì tiền phong bì bị bớt và giao việc mổ chính cho một bác sĩ trẻ măng gần như mới thực tập, thực hiện ca mổ đầu tiên. Anh này cũng có những cố gắng nhưng kinh nghiệm và kiến thức không đủ đã khiến đường dao trên tay đi chệch vài lần. Dù chỉ là một chút nhưng nó đã dẫn đến sự quẫn chí, kết thúc cho một kiếp người.
(Đăng trên báo Thời Nay số 70, ngày thứ 5, ngày 9.9.2010)
Mạnh Quân
Đây là chuyện thật tới… 70%, trừ một số phần phải bịa về hoàn cảnh xuất phát câu chuyện. Nhưng đáng ra gọi là một ghi chép hơn. Nhân vật trong bài viết là mà bà nằm cùng phòng bệnh với mẹ tôi ở bệnh viện Đức Giang, Long Biên, Hà Nội. Khi tôi đến phòng bệnh mẹ tôi năm trước thì bà bệnh nhân này đã được chuyển đi, sau lần tự tử thứ 3. Nhưng câu chuyện về tên bác sĩ thú vật đó (nghe kể là bác sĩ của bệnh viện 103) vẫn làm cho những người trong phòng xúc động. Hôm nay tôi về nhà, mẹ tôi đọc truyện này xong bảo… tạm được. Hê hê. Nhưng còn thiếu một số chi tiết như sau khi nhận tiền lần 2, tay bác sĩ đếm xong, hỏi: Bao tiền đây? Người nhà bệnh nhận đáp: 7 triệu. Hắn nói: Tạm được, nếu cứ đưa như thế lúc đầu có phải đã tốt không rồi mới quay vào mổ. Mẹ tôi nói, bà nằm cạnh giường chị kia, rất khổ vị chị ta không có lúc nào ngủ được vì sau khi mổ hỏng, cơn đau lúc nào cũng xói như kim châm khắp đỉnh đầu và luôn hỏi mọi người: có cách nào chết cho nhanh không, tôi khốn khổ quá.Tiếc là, cái thứ mình viết này không được giống truyện ngắn cho lắm. May mà Thời Nay thương tình đăng cho, tuy nhiên, cũng lưu ở đây để nhắc nhở mình rằng: đừng bao giờ quay lại với ý tưởng viết văn nữa. Thê thảm lắm. Ha ha
Phải chết
Người phụ nữ oặt oẹo nằm trên sàn nhà. Cả người đầm đìa mồ hôi, chị vặn vẹo, lết đi từng phân một để cố gắng trở lại chiếc ghế, nơi vừa lúc trước, chị đã phải ngã khuỵu xuống, lăn ra cách xa gần một mét vì một cơn đau xói lên tận đỉnh óc. Phải, chị phải lết tới đó, dù chỉ vài găng tay nữa thôi, để bằng mọi cách bám lấy, đứng lên, đưa tay lên phía trên. Ở đó, đã treo sẵn một sợi dây dù, nhỏ thôi nhưng phải bằng cả một cố gắng phi thường trong hơn một giờ đồng hồ lúc trước, chị mới vắt ngang được qua cái móc treo quạt trần. Đó là số phận của chị, nơi để chị kết thúc mọi nỗi đau đớn, khổ sở kéo dài hàng tháng mà như hàng thế kỷ qua ở chị.
Đây là lần thứ 4 chị tìm đến cái chết. Cả 3 lần trước, khi thì đang chuẩn bị hành động, thì việc chị định làm đều đã bị người nhà hoặc bà hàng xóm phát hiện. Tất cả lại xúm sít, trách móc, khuyên can. Nhưng chẳng ai khuyên được chị nữa. Cuộc sống với chị, thế là đã hết rồi. Các bác sĩ nói rằng, cuộc sống còn lại của chị chỉ còn đo được bằng một, hai năm là cùng. Chủ yếu phải nằm trên giường vì tuy có thể còn đi lại được chút ít nhưng, với chị, mỗi lần cố gắng đứng dậy để làm gì đó là vô cùng khó khăn với những cơn đau xé dọc sống lưng. Chẳng còn có thể làm gì, chị sống sao sướng bằng chết. Chỉ có cái chết mới giải thoát cho chị khỏi kiếp sống trần ai này.
Cách đây chừng 4 tháng, chị vẫn là một người phụ nữ còn khỏe mạnh. Khi ấy, chị là một thành viên của đội quân cửu vạn đông đúc, chuyên chở hàng từ bên kia biên giới qua cửa khẩu Tân Thanh-Lạng Sơn. Công việc hàng ngày của chị là gồng lưng kéo cỗ xe nặng kể đến cả tấn hàng nào là quần áo, vải vóc, tivi, đầu đĩa, loa đài, máy bơm…từ cửa khẩu bên kia về đến tận chợ bên này. Dù có người đẩy sau nhưng chị vẫn luôn hết sức đề kéo, ghìm 2 cái càng xe phía trước luôn có xu hướng chổng vọt lên trời. Mỗi ngày, khi nhận tiền công trở về, là cũng lúc chập tối. Khắp người mở rời rã, đau ê ẩm, nhất là sống lưng, cổ và 2 bên cánh tay.
Chị phải lao động cật lực để hàng tháng đưa tiền về phụ với chồng nuôi 3 đứa con. Một đang học đại học, một mới 13 tuổi, đang học cấp 2 và một đứa mới 9 tuổi, học cấp 1. Chồng chị, già hơn chị gần chục tuổi làm nghề mộc nhiều năm ngay trong làng nhưng tiền công hàng tháng hầu như chỉ đủ cho chính ông ăn và cho chứng nghiện rượu của ông ấy. Mọi thứ đều trông vào số tiền chị kiếm được từ nơi cửa khẩu này. Đúng thời hàng hóa, buôn lậu qua biên giới 2 bên như thác lũ nên mình chị, tháng nào cũng kiếm được đủ tiền lo ăn, học cho 2 đứa nhỏ nhất. Còn thằng lớn, học đại học nhưng đã tự ra ngoài làm thêm ở một xưởng giép gia công để kiếm tiền tự nuôi mình và nộp học phí hàng tháng.
Vào một ngày bình thường, rủi cho chị, một thùng hàng toàn đồ điện tử, có lẽ là mấy cái đầu đĩa DVD buộc phía trên nhưng chưa chặt lắm trên cái xe mà chị đang kéo phía trước lại trượt ra đằng trước, rơi, giáng thẳng vào lưng chị. Một cơn đau điếng người làm chị choáng váng. Cơn đau như muốn gãy sống lưng rồi lan ra khắp toàn thân. Những người bạn cùng nhóm với chị đã nhanh chóng đưa chị về bệnh viện Bắc Giang, nơi không xa nhà chị lắm để gia đình chị tiện tới chăm sóc. Nhưng xem chừng cú rơi khá mạnh làm tổn thương nặng cột sống của bệnh nhân, các bác sĩ bệnh viện tỉnh nói chị nên xuống Hà Nội tìm bệnh viện có chuyên khoa để phẫu thuật và điều trị.
Được vài người quen mách nước, gia đình chị đã tìm được một bệnh viện đa khoa lớn, được tiếng là có nhiều bác sĩ chuyên khoa giỏi mà chi phí không quá tốn kém. Theo chẩn đoán của các bác sĩ, chị bị tổn thương cột sống và thoát vị đĩa đệm. Cần phải tiến hành một ca mổ để xếp lại phần xương đệm.
Mới lần đầu thấy mặt vị bác sĩ sẽ trực tiếp chỉ đạo ca mổ, chị đã thấy ớn lạnh. Cho dù trong đời, đã làm ở nhiều nơi: chợ búa, cửa khẩu, bến xe… biết mặt toàn những thành phần bất hảo: trộm cướp, nghiện hút, dân buôn…Nhưng chẳng có khuôn mặt nào lạnh lẽo, không có chút sinh khí, không thể hiện là hiền hay dữ ở người bác sĩ trông cũng đã nhiều tuổi này.
Chị nhớ, lần đầu khi ông ta đi vào phòng khám, đã đặt cả mấy ngón tay xương xẩu, lạnh ngắt ấn sâu vào lưng chị làm chị đau điếng. Lão nói: “Đau đâu, đây à, người nhà đâu ?”.
Khi kết quả chẩn đoán được công bố, cũng không biết thoát vị đĩa đệm, chấn thương cột sống là nguy hiểm thế nào nhưng chị cũng mường tượng là căn bệnh chị mắc phải là rất nguy hiểm. Bệnh phải mổ, nhưng khi nghe chồng chị nói về khoản viện phí chẳng biết chị đã buột miệng than thở câu gì, ông bác sĩ nghe câu được câu chăng đã phán một câu: “ Không tiền thì thôi, nghỉ mổ nhé. Về quê nằm nhà, chồng nuôi !”. Rồi, phất phơ 2 vạt áo blue trắng, ông ta bỏ ra ngoài.
Không mổ sao được, nếu chị không bình phục thì con chị ai nuôi bây giờ ?. Những người bà con, họ hàng của chị khi thăm nom chị ở nhà và hôm đầu tại bệnh viện, mỗi người một ít cũng đã gom góp cho chị đủ một khoản để trang trải. Giờ thì chỉ chờ ngày mổ và ccả nhà chị chỉ còn biết cầu trời khấn phật cho ca mổ thành công.
Tuy nhiên, cái cảm giác rằng vận đen của mình đã đến, rằng ca mổ sẽ không thành công khi chị thấy gương mặt lạnh băng, cáu bẳn của tay bác sĩ và cả kíp mổ đã trở thành sự thật. Nhưng người thân thiết, quen biết chị chờ đợi tin sau mổ đều thấy ngạc nhiên vì sao có tiền bồi dưỡng rồi mà cả một cái tin thông báo trong hồ sơ khám bệnh về tình trạng bệnh nhân cũng không rõ ràng. Chỉ có chồng chị hiểu. Mặt ông bỗng nghệt ra. Rồi vùng lên, ông chạy ra ngoài, vác hòn đá xông vài phòng tìm tay bác sĩ. Nhưng bảo vệ đã kịp ngăn ông lại, đẩy ông ra ngoài.
Khi bình tĩnh trở lại, được gặp lại vợ mình, lúc chị đã tỉnh lại, ông quỳ xuống, đấm thùm thụp vào ngực, mặt mình xin vợ tha thứ. Ông đã không làm tốt việc chị giao, là việc đưa tiền bồi dưỡng cho bác sĩ và nhóm phụ mổ-một việc mà muôn người hiện nay vào tình cảnh như thế này thường phải làm. Vì tiếc số tiền dành dụm được, ông đã bớt ra một nửa số tiền để cất đi và điều này, chắc chắn đã làm tay bác sĩ kia tức giận.
Ông nói, ông sẽ đi kiện tay bác sĩ khốn nạn đó tới cùng và phải buộc bệnh viện cử nhóm bác sĩ có chuyên môn nhất phẫu thuật lại cho chị. Đau đớn và thất vọng tận cùng nhưng với bản tình hiền lành, hầu như chưa cãi vã với ai bao giờ, chị nhớ, chị đã nói với chồng: “Mình đứng lên và đừng làm thế nữa đi. Bác sĩ họ vào, họ nghe rồi cũng không ra làm sao. Có lẽ số phận của em nó vậy. Bây giờ có kiện cũng chưa giải quyết được gì. Phải tìm cách nào để khỏi bệnh đã, mình ạ”.
Không còn đủ tiền để làm theo lời khuyên của bác sĩ rằng, để chữa chị dứt hoàn toàn, phải sang Singapore phẫu thuật lại với số tiền tính ra ít nhất vài trăm triệu đồng. Số tiền ấy nhà chị làm sao có được ? Dù có bán cả nhà, đất đang ở đi cũng chưa đủ được một phần ba. Gia đình chị lại năn nỉ xin được phẫu thuật lại. Vẫn tay bác sĩ ấy và lần này, chị ruột của chị đã trực tiếp làm nhiệm vụ bồi dưỡng cho bác sĩ chính và ca mổ. Trước khi bắt đầu mổ, bác sĩ ra ngoài và lần này cẩn thận hơn, ông đếm tiền ngay tại chỗ. Rồi ngoắc tay đám phụ mổ vẫn nhìn ông chờ đợi, lão xỏ găng cùng cả nhóm rảo bước đi vào phòng mổ.
Tuy nhiên, kết quả dường như tồi tệ hơn. Bệnh viện đề nghị gia đình nhận chị về với lời khuyên là đưa về bệnh viện địa phương đề điều trị theo phương pháp đông y. Và cũng không có thêm một lời giải thích vì sao ca mổ tiếp sau vẫn không thành công.
Chẳng còn cách nào khác và cũng chẳng còn tiền, chồng chị và đứa con trai cả tạm thời nghỉ học để chăm mẹ đã đưa chị về bệnh viện huyện gần nhà. Ở đây cũng có phòng khám đông y. Vị trưởng khoa ở đây cũng tốt, và bằng kiến thức và kinh nghiệm trình độ cấp huyện của mình, ông cũng hiểu rằng, bệnh nhân của ông đã trải qua 2 cuộc phẫu thuật vô cùng tệ hại. Hậu quả của cả 2 ca mổ khi trước là đĩa đệm cũng chưa xếp lại được mà cột sống của bệnh nhân đang trong tình trạng rách màng cứng, gây rò rỉ dịch não tủy, đồng thời bị nhiễm trùng. Ông nói với chồng chị:
“Tôi rất thông cảm. Nhưng phải nói thẳng với anh là, bệnh chị nhà quá nặng. Theo quan sát của tôi thì bệnh của chị ấy biến chứng rồi, ảnh hưởng nặng đến thần kinh và bệnh nhân đã mất khả năng kiểm soát việc tiểu tiện, đại tiện. Nếu không điều trị tiếp thì khả năng sống được cũng rất thấp. Chúng tôi có thể chuyển vợ anh qua các khoa khác phẫu thuật lại một lần nữa để xếp lại đĩa đệm, giúp khắc phục được tình trạng nhiễm trùng, nhưng việc rách màng cứng hiện nay cũng gây biến chứng thì bệnh viện của chúng tôi không làm nổi mà tôi tin với dạng biến chứng này, hiện nay ở Việt Nam, không có bệnh viện lớn nào xử lý được”.
Chồng chị hoảng hốt: “Không thể có cách nào hồi phục được dù chỉ để đi đứng bình thường hay sao, thưa bác sĩ ?”
Ông bác sĩ bảo:“Vẫn có thể đi lại được đôi chút. Nhưng cơ bản là không thể nào được hồi phục, đi đứng được bình thường như trước đâu mà tuổi thọ của chị nhà chỉ có thể tính còn vài năm nữa là cùng. Khi phẫu thuật, khắc phục tình trạng nhiễm trùng xong thì anh đưa chị về khoa bên này, chúng tôi có thể giúp một phần hồi phục sức khỏe. Sau đó thì anh đưa chị về gia đình chăm sóc”.
Tuyệt vọng với những điều bác sĩ nói nhưng những người thân, họ hàng của chị cũng giúp thực hiện những đề nghị như của vị bác sĩ trưởng khoa đông y nọ. Bệnh viện tuyến huyện tuy nhếch nhác, nghèo nàn về dụng cụ, phương tiện, bác sĩ, y tá cũng có đòi hỏi nhất định về tiền bồi dưỡng thêm nhưng hóa ra cũng quá tệ so với nơi chị khám trên tuyến trung ương. Chỉ có điều, kết quả cuối cùng dành cho chị, y như lời ông bác sĩ đông y nói, chị không còn bị nhiễm trùng nhưng thời gian còn lại của cuộc đời, chủ yếu phải nằm dài trên giường . Có thể gượng dậy đi lại chút nhưng rất khó khăn và đau đớn. Bệnh viện huyện không thể giúp gì thêm.
Đó là tất cả việc dẫn đến việc chị phải tranh thủ lúc chồng đi vắng, những đứa bé của chị cũng đang đi học, mọi người đã lơi lỏng với việc đề phòng, tìm cách không cho chị có cơ hội tự tử để lại tìm đến cái chết ngày hôm nay. Phải chết, đó là nối tuyệt vọng nhưng là cách duy nhất để chị chấm dứt tất cả những nỗi khổ đau đến với chị trong những tháng ngày qua và cả những năm dài sắp tới. Hai đứa con còn bé của chị, chị mong, chúng sẽ được bà con, nội ngoại và rồi thằng anh lớn của chúng, sắp ra trường nuôi nấng. Chỉ cố thêm một chút thôi, quàng được cái vòng thòng lọng oan nghiệt kia qua cổ, mọi nỗi khổ đau sẽ đi qua với chị.
Chỉ chừng khoảng 10 phút sau, khi một người hàng xóm, như mọi khi, vẫn có lòng tốt qua thăm nom, giúp chị qua lại sang nhà để nói chuyện xem có giúp gì được không đã nhìn thấy người phụ nữ bất hạnh ấy lủng lẳng trên sợi dây treo giữa nhà. Đã quá muộn để cứu chữa. Mặt người phụ nữ treo cổ khi chết co rúm, lộ rõ nét đau đớn nhưng cũng vương vấn một nếp gì đó như sự hài lòng, mỉm cười với chính mình trước giây cuối cùng từ giã cõi đời.
Nhưng người phụ nữ ấy và tất cả người thân, người quen của chị có thể vẫn không biết rằng, ca mổ đầu của chị sở dĩ không thành công vì gã bác sĩ ở bệnh viện trung ương sau chỉ 10 phút đeo găng, tiến hành phẫu thuật đã bỏ ra ngoài, tức giận vì tiền phong bì bị bớt và giao việc mổ chính cho một bác sĩ trẻ măng gần như mới thực tập, thực hiện ca mổ đầu tiên. Anh này cũng có những cố gắng nhưng kinh nghiệm và kiến thức không đủ đã khiến đường dao trên tay đi chệch vài lần. Dù chỉ là một chút nhưng nó đã dẫn đến sự quẫn chí, kết thúc cho một kiếp người.
(Đăng trên báo Thời Nay số 70, ngày thứ 5, ngày 9.9.2010)
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)