Người ta lấy ngày 24 tháng 3 hàng năm là ngày quốc tế chống lao. Rất nhiều nước đã có chương trình chống lao quốc gia, nhằm thanh toán bệnh lao. Tuy nhiên trong những năm 90 trở lại đây, bệnh lao tăng lên do nhiều yếu tố, trong đó đáng chú ý là đại dịch HIV / AIDS và yếu tố chủ quan của thày thuốc, yếu tố xã hội. Điều trị lao chính là cách phòng lao tốt nhất. Muốn điều trị lao thì cần nắm vững mục đích, nguyên tắc điều trị, nắm vững các thuốc và chỉ định đúng phác đồ.
Chào mừng đến với blog của lớp K36B : Vì một cộng đồng y khoa phát triển
Hiển thị các bài đăng có nhãn lao. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn lao. Hiển thị tất cả bài đăng
LAO HỆ THỐNG TIÊU HÓA - BS.TRẦN THỊ KIM THU
ĐẠI CƯƠNG
_TB gây ra 3 triệu tử vong trên toàn cầu. Ước tính 2000 – 2020 khoảng 1 tỷ người bị nhiễm, 200 triệu người mắc bệnh và 35 triệu người tử vong.
_Trong thập niên vừa qua, có sự gia tăng đáng kể các thể lao ngoài phổi, trong đó có lao hệ thống tiêu hóa, ở cả nước đang và đã phát triển.
_Thể bệnh này thường gặp ở người trẻ, nhưng cũng có thể gặp ở bất cứ độ tuổi nào.
_Các yếu tố thuận lợi:
Do ảnh hưởng của dịch HIV trên toàn cầu
Những người vô gia cư, không nghề nghiệp
Sự di dân từ những nơi có mức độ nhiễm lao cao.
_Khoảng 20 - 25% bn lao hệ thống tiêu hóa có kèm lao phổi.
ĐỊNH NGHĨA
Lao hệ thống tiêu hóa là sự viêm nhiễm và tổn thương hệ thống tiêu hóa do trực khuẩn lao xâm nhập và gây nên.
Lao phổi có thể gặp ở bất cứ vị trí nào, nhưng thường gắp ở vùng hồi – manh tràng
SINH BỆNH HỌC
_Vi trùng gây bệnh thường do M.tuberculosis.
_Đôi khi do M.avium complex (MAC), luôn kết hợp với AIDS
_Lao hệ thống tiêu hóa thường thứ phát sau lao phổi. Bn nuốt đàm có chứa trực khuẩn lao
_Từ ổ lao nguyên phát BK có thể lan truyền theo: đường bạch huyết và đường máu để gây bệnh ở hệ tiêu hóa. Hoặc lây nhiễm từ ổ lao nguyên phát lân cận (như lao thận…)
_Có thể gặp lao ruột nguyên phát do thức ăn, nước uống bị nhiễm BK, vi trùng vào thẳng ruột và gây bệnh
GIẢI PHẪU BỆNH
1.Vi thể: Viêm, xơ hóa thành ống tiêu hóa, viêm hoại tử (Peyer) các hạch lympho vùng và thuyên tắc mạch à ổ loét làm dầy thành, xơ hóa và tạo dạng giống u à chít hẹp và dò hệ thống tiêu hóa.
2.Đại thể: 3 dạng
-Thể loét: (Chiếm 60%), nhiều ổ loét trên thành ruột, loét sâu (trục dọc của ổ loét vuông góc với trục dọc của ruột)
-Thể phì đại: (chiếm 10%) dầu thành ruột do xơ hóa, có thể tạo khối giả u như carcinoma
-Loét và phì đại: (chiếm 30%)
TRIỆU CHỨNG
1.TCCN
_Rất đa dạng: Đau bụng thường ở vị trí hố chậu phải, đau âm ỉ không lan.
_Phân lỏng có thể có đàm nhớt hoặc có máu. Hoặc táo bón (khoảng 1/3 trường hợp)
_Sốt nhẹ về chiều
_Thể trạng suy sụp nhanh (80 -90%)
Buồn nôn và ói khi có tắc ruột
2. TCLS:
-Dấu Koenig ở hố chậu: một khối nổi gồ lên làm bn rất đau, kèm theo tiếng hơi di động qua chỗ hẹp à khối từ từ xẹp, bn bớt đau.
-Sờ thấy khối u (tuberculome): chắc di động, không đau.
CẬN LÂM SÀNG
1. Phản ứng lao tố trong da (IDR):
2. X.Quang khung đại tràng có sửa soạn: vùng hồi – manh tràng bị teo hẹp.
3. Nội soi khung đại tràng: Độ chính xác cao – có thể sinh thiết
4. Phương pháp nhuộm cấy phân, tìm BK: BK (+) có giá trị chẩn đoán cao, kết quả rất thấp
5. CT Scan bụng: Dầy mạc treo ruột >15mm, nhiều hạch mạc treo.
Có thể phân biệt được giữa trực khuẩn lao và MAC
M.T: nhiều hạch mạc treo hoại tử và nhiều tổn thương trong nhiều nội tạng
MAC: phì đại nhiều hạch, gan to và lách to.
6. Siêu âm bụng: xác định các tổn thương do lao ở hạch mạc treo và các sang thương hoại tử.
7. Test Elisa chẩn đoán nhiễm HIV kết hợp.
CHUẨN ĐÓAN
Chẩn đoán xác định: BK trong phân hoặc dịch màng bụng (khó chẩn đoán)
Cần dựa vào các yếu tố sau:
-Tìm nguồn lây
-Tìm ổ vi trùng nguyên phát: chụp X.Quang phổi, xương – khớp, tiết niệu - sinh dục, khám hạch…
-X.Quang khung đại tràng
-Nội soi khung đại tràng
-Triệu chứng cơ năng
-CT scan, Siêu âm bụng, chọc dò và sinh thiết màng bụng.
-Phản ứng miễn dịch học để xác định nhiễm HIV.
BIẾN CHỨNG-Tắc ruột: tổn thương mô hạt phát triển bít kín, tổn thương mô xơ làm teo hẹp lòng ruột.
-Thủng manh tràng: gây viêm phúc mạc, rất khó chẩn đoán.
-Dò tiêu hóa: dò từ manh tràng ra các mô xung quang à lao hạch ổ bụng, lao màng bụng, lao bộ phận sinh dục.
ĐIỀU TRỊ
1.Dinh dưỡng: tuyệt đối nghỉ ngơi – ăn uống đầy đủ chất bổ dưỡng, ăn nhiều lần trong ngày.
2.Thuốc kháng lao: REHZ
3.Thuốc kháng viêm: nên dùng thuốc kháng viêm trong 6 tuần lễ à tránh dầy dính và tạo xơ, rút ngắn quá trình diễn biến của bệnh.
4.Điều trị ngoại khoa: khi tắc nghẹt ống tiêu hóa.
5.Điều trị triệu chứng:
-Giảm kích thích niêm mạc ruột
-Điều chỉnh đại tiện, chống táo bón hoặc điều trị tiêu chảy
-Giảm mỡ béo
-Nâng tổng trạng.
___________________TB gây ra 3 triệu tử vong trên toàn cầu. Ước tính 2000 – 2020 khoảng 1 tỷ người bị nhiễm, 200 triệu người mắc bệnh và 35 triệu người tử vong.
_Trong thập niên vừa qua, có sự gia tăng đáng kể các thể lao ngoài phổi, trong đó có lao hệ thống tiêu hóa, ở cả nước đang và đã phát triển.
_Thể bệnh này thường gặp ở người trẻ, nhưng cũng có thể gặp ở bất cứ độ tuổi nào.
_Các yếu tố thuận lợi:
Do ảnh hưởng của dịch HIV trên toàn cầu
Những người vô gia cư, không nghề nghiệp
Sự di dân từ những nơi có mức độ nhiễm lao cao.
_Khoảng 20 - 25% bn lao hệ thống tiêu hóa có kèm lao phổi.
ĐỊNH NGHĨA
Lao hệ thống tiêu hóa là sự viêm nhiễm và tổn thương hệ thống tiêu hóa do trực khuẩn lao xâm nhập và gây nên.
Lao phổi có thể gặp ở bất cứ vị trí nào, nhưng thường gắp ở vùng hồi – manh tràng
SINH BỆNH HỌC
_Vi trùng gây bệnh thường do M.tuberculosis.
_Đôi khi do M.avium complex (MAC), luôn kết hợp với AIDS
_Lao hệ thống tiêu hóa thường thứ phát sau lao phổi. Bn nuốt đàm có chứa trực khuẩn lao
_Từ ổ lao nguyên phát BK có thể lan truyền theo: đường bạch huyết và đường máu để gây bệnh ở hệ tiêu hóa. Hoặc lây nhiễm từ ổ lao nguyên phát lân cận (như lao thận…)
_Có thể gặp lao ruột nguyên phát do thức ăn, nước uống bị nhiễm BK, vi trùng vào thẳng ruột và gây bệnh
GIẢI PHẪU BỆNH
1.Vi thể: Viêm, xơ hóa thành ống tiêu hóa, viêm hoại tử (Peyer) các hạch lympho vùng và thuyên tắc mạch à ổ loét làm dầy thành, xơ hóa và tạo dạng giống u à chít hẹp và dò hệ thống tiêu hóa.
2.Đại thể: 3 dạng
-Thể loét: (Chiếm 60%), nhiều ổ loét trên thành ruột, loét sâu (trục dọc của ổ loét vuông góc với trục dọc của ruột)
-Thể phì đại: (chiếm 10%) dầu thành ruột do xơ hóa, có thể tạo khối giả u như carcinoma
-Loét và phì đại: (chiếm 30%)
TRIỆU CHỨNG
1.TCCN
_Rất đa dạng: Đau bụng thường ở vị trí hố chậu phải, đau âm ỉ không lan.
_Phân lỏng có thể có đàm nhớt hoặc có máu. Hoặc táo bón (khoảng 1/3 trường hợp)
_Sốt nhẹ về chiều
_Thể trạng suy sụp nhanh (80 -90%)
Buồn nôn và ói khi có tắc ruột
2. TCLS:
-Dấu Koenig ở hố chậu: một khối nổi gồ lên làm bn rất đau, kèm theo tiếng hơi di động qua chỗ hẹp à khối từ từ xẹp, bn bớt đau.
-Sờ thấy khối u (tuberculome): chắc di động, không đau.
CẬN LÂM SÀNG
1. Phản ứng lao tố trong da (IDR):
2. X.Quang khung đại tràng có sửa soạn: vùng hồi – manh tràng bị teo hẹp.
3. Nội soi khung đại tràng: Độ chính xác cao – có thể sinh thiết
4. Phương pháp nhuộm cấy phân, tìm BK: BK (+) có giá trị chẩn đoán cao, kết quả rất thấp
5. CT Scan bụng: Dầy mạc treo ruột >15mm, nhiều hạch mạc treo.
Có thể phân biệt được giữa trực khuẩn lao và MAC
M.T: nhiều hạch mạc treo hoại tử và nhiều tổn thương trong nhiều nội tạng
MAC: phì đại nhiều hạch, gan to và lách to.
6. Siêu âm bụng: xác định các tổn thương do lao ở hạch mạc treo và các sang thương hoại tử.
7. Test Elisa chẩn đoán nhiễm HIV kết hợp.
CHUẨN ĐÓAN
Chẩn đoán xác định: BK trong phân hoặc dịch màng bụng (khó chẩn đoán)
Cần dựa vào các yếu tố sau:
-Tìm nguồn lây
-Tìm ổ vi trùng nguyên phát: chụp X.Quang phổi, xương – khớp, tiết niệu - sinh dục, khám hạch…
-X.Quang khung đại tràng
-Nội soi khung đại tràng
-Triệu chứng cơ năng
-CT scan, Siêu âm bụng, chọc dò và sinh thiết màng bụng.
-Phản ứng miễn dịch học để xác định nhiễm HIV.
BIẾN CHỨNG-Tắc ruột: tổn thương mô hạt phát triển bít kín, tổn thương mô xơ làm teo hẹp lòng ruột.
-Thủng manh tràng: gây viêm phúc mạc, rất khó chẩn đoán.
-Dò tiêu hóa: dò từ manh tràng ra các mô xung quang à lao hạch ổ bụng, lao màng bụng, lao bộ phận sinh dục.
ĐIỀU TRỊ
1.Dinh dưỡng: tuyệt đối nghỉ ngơi – ăn uống đầy đủ chất bổ dưỡng, ăn nhiều lần trong ngày.
2.Thuốc kháng lao: REHZ
3.Thuốc kháng viêm: nên dùng thuốc kháng viêm trong 6 tuần lễ à tránh dầy dính và tạo xơ, rút ngắn quá trình diễn biến của bệnh.
4.Điều trị ngoại khoa: khi tắc nghẹt ống tiêu hóa.
5.Điều trị triệu chứng:
-Giảm kích thích niêm mạc ruột
-Điều chỉnh đại tiện, chống táo bón hoặc điều trị tiêu chảy
-Giảm mỡ béo
-Nâng tổng trạng.
NGUỒN : DIENDANYKHOA.COM
Nguyên tắc chung của việc chẩn đoán và xử trí tác dụng phụ của thuốc kháng lao
I. NGUYÊN TẮC CHUNG
Tất cả các thuốc chống lao đều có tác dụng phụ, thời gian dùng thuốc phải kéo dài nên tai biến do thuốc xảy ra khá phổ biến trong quá trình điều trị. Các tai biến này có nhiều mức độ khác nhau: nhẹ có thể chữa khỏi dễ dàng và không ảnh hưởng đến tiến trình điều trị, nặng có thể để lại di chứng không hồi phục nếu không xử trí kịp thời, hoặc nguy hiểm hơn có thể đưa đến tử vong.
Nguyên tắc chẩn đoán:
- Dựa vào khai thác tiền sử của bệnh nhân và làm xét nghiệm khảo sát chức năng gan, thận để phát hiện nguy cơ tai biến trên bệnh nhân .
- Dựa vào các triệu chứng bất thường xuất hiện do bệnh nhân tự nhận thấy và do bác sĩ phát hiện ra trong quá trình khám bệnh .(Bác sĩ cần lưu ý bệnh nhân những tác dụng phụ có thể xảy ra và yêu cầu báo ngay cho bác sĩ khi có triệu chứng bất thường xuất hiện).
- Dựa vào các xét nghiệm định kỳ, đặc biệt là men gan.
- Hỏi xem trong thời gian dùng thuốc điều trị lao, người bệnh có uống nhiều rượu, bia hoặc sử dụng thêm các thuốc có hại cho gan và thận không, vì hầu hết các thuốc trị lao đều độc cho gan và được thải qua thận.
Nguyên tắc xử trí :
- Ngừng thuốc để phản ứng có hại không nặng nề hơn.
- Xác định thuốc gây phản ứng.
- Điều trị triệu chứng .
+Tai biến nhẹ
Theo dõi tốc độ tiến triển .
Điều trị triệu chứng .
Xem lại liều lượng thuốc .
Chuyển thời gian uống thuốc vào bữa ăn .
+ Tai biến nặng
Đưa vào bệnh viện điều trị và theo dõi .
Không dùng lại thuốc đó .
- Tốt nhất là sử dụng những thuốc chống lao khác thay thế để bảo đảm nguyên tắc điều trị.
- Sử dụng liệu pháp giải mẫn cảm để dùng thuốc lại dưới sự bảo vệ của Corticoid .
- Tiếp tục điều trị bằng những thuốc không gây phản ứng .
- Sử dụng thuốc liều thấp nhất có thể để hạn chế những phản ứng có hại.
- Khám kĩ bệnh nhân để phát hiện bệnh kèm theo, cơ địa đặc biệt , thuốc khác đang điều trị phối hợp .
Khi thuốc chống lao gây những phản ứng độc hại, người bệnh không được tự ý bỏ trị mà phải đến ngay các cơ sở y tế đang theo dõi và chăm sóc để báo cáo. Ngược lại nhân viên y tế chăm sóc phải kịp thời phát hiện, giải thích hướng dẫn và kịp thời xử lý. Người bệnh sẽ được chỉ định tùy theo mức độ và loại phản ứng độc hại do sử dụng thuốc .
· Cần lưu ý rằng người bệnh lao khi có những phản ứng do thuốc chống lao nếu không được theo dõi sát và hướng dẫn sẽ bỏ điều trị. Việc bỏ trị làm cho bệnh tiếp tục tiến triển, gây tổn thương nặng nề hơn và rất nguy hiểm là làm cho vi khuẩn lao kháng lại các thuốc chống lao. Điều trị lại không khỏi bệnh và trở thành nguồn lây gieo rắc bệnh lao kháng thuốc trong cộng đồng .
II. CHẨN ĐOÁN VÀ XỬ TRÍ MỘT SỐ TÁC DỤNG PHỤ THƯỜNG GẶP TRÊN LÂM SÀNG CỦA THUỐC KHÁNG LAO
Loại nhẹ:
Buồn nôn, nôn mửa, đau bụng
Uống thuốc sau bữa ăn buổi tối
Nước tiểu đỏ hoặc da cam
Tiếp tục dùng
Đau khớp
Aspirin hoặc thuốc kháng viêm không Steroid
Cảm giác nóng bỏng ở chân.
Pyridoxin 50 – 70 mg/ngày
Ngứa, phát ban ngoài da
Ngưng thuốc, giải mẫn cảm và thử dùng lại.
Loại nặng:
Xuất huyết da, thiếu máu tan huyết, suy thận cấp
Ngưng R, không bao giờ dùng lại
Sốc và purpura(viêm trợt da)
Ngừng Rifampicin
Sốc phản vệ
Ngưng S, thay bằng E, không dùng lại
U tai, chóng mặt, điếc
Ngưng S, thay bằng E
Giảm thị lực (trừ căn nguyên khác)
Ngưng E
Vàng da, viêm gan
(trừ căn nguyên khác)
Ngưng thuốc chờ hết viêm gan,
thử dùng lại H, R
Những tác dụng phụ thường gặp trong lúc dùng thuốc chữa lao:
Trong thực tế, nếu dùng liều lượng theo tiêu chuẩn và phù hợp với cơ địa của bệnh nhân, tai biến do thuốc ít khi gặp, hoặc nếu có cũng nhẹ hoặc thoáng qua, không cần thay đổi điều trị. Những tác dụng phụ nhẹ thường gặp là:
- Bần thần, cảm giác này có thể kéo dài khoảng 30 phút đến 1-2 giờ, thường chỉ xảy ra trong 5-7 ngày đầu mới điều trị, sau đó người bệnh sẽ không còn cảm giác này.
- Nước tiểu có màu đỏ, là màu của thuốc rifampicin, khi ngưng thuốc nước tiểu sẽ có màu như cũ. Đây cũng là dấu hiệu giúp bác sĩ nhận biết bệnh nhân có dùng thuốc này hay không.
- Sạm da, thường là do thuốc pyrazinamid, để giảm bớt tác dụng phụ này không nên đi ra ngoài trời nắng, nếu phải đi thì mặc áo dài tay, mang khẩu trang, đội nón... để hạn chế phần da tiếp xúc ánh sáng. Khi ngưng uống PZA thì triệu chứng trên cũng dần dần biến mất.
- Nổi sẩn ngứa, thường chỉ cần chữa triệu chứng, sẩn ngứa sẽ từ từ giảm đi rồi hết.
- Tê rần ở môi sau khi tiêm thuốc streptomycin cũng chỉ là triệu chứng thoáng qua, không cần điều trị.
- Nóng rát ở chân, tê tay chân là do Isoniazid, điều trị với vitamin B6 liều thấp 15mg-50mg mỗi ngày.
- Đau khớp, chỉ cần điều trị triệu chứng; ở người có tiền sử bệnh gút, PZA có thể làm tăng axit uric máu và làm khởi phát cơn gút cấp, điều trị như cơn gút cấp.
- Đau hoặc thấy khó chịu ở vùng thượng vị, gây buồn nôn: thường là nhẹ, chỉ cần chữa triệu chứng hoặc thay vì uống thuốc lúc bụng đói có thể ăn nhẹ như cháo, xúp, uống sữa... trước khi uống thuốc triệu chứng này cũng sẽ khỏi.
Trong lúc đang điều trị, nếu thấy các triệu chứng như vàng da, vàng mắt; thị lực giảm, ù tai chóng mặt, sốt có kèm theo nổi mẩn ngứa, ban xuất huyết... là những triệu chứng nặng phải báo cho bác sĩ biết ngay, không được tự ý tiếp tục dùng thuốc.
Biện pháp đề phòng tai biến do thuốc điều trị lao:
Trước khi điều trị: cần khai thác kỹ tiền sử của bệnh nhân và làm xét nghiệm khảo sát chức năng gan, thận.
Trong khi điều trị:
* Dùng thuốc đúng liều và phù hợp với cơ địa của người bệnh.
* Lưu ý bệnh nhân những tác dụng phụ có thể xảy ra và yêu cầu báo ngay cho bác sĩ khi có triệu chứng bất thường xuất hiện.
* Làm xét nghiệm định kỳ, đặc biệt là men gan.
* Trong thời gian dùng thuốc điều trị lao, người bệnh không được uống rượu, bia và hạn chế hoặc tránh sử dụng thêm các thuốc có hại cho gan và thận, vì hầu hết các thuốc trị lao đều độc cho gan và được thải qua thận.
NGUỒN DIENDANYDUOC.NET
Tất cả các thuốc chống lao đều có tác dụng phụ, thời gian dùng thuốc phải kéo dài nên tai biến do thuốc xảy ra khá phổ biến trong quá trình điều trị. Các tai biến này có nhiều mức độ khác nhau: nhẹ có thể chữa khỏi dễ dàng và không ảnh hưởng đến tiến trình điều trị, nặng có thể để lại di chứng không hồi phục nếu không xử trí kịp thời, hoặc nguy hiểm hơn có thể đưa đến tử vong.
Nguyên tắc chẩn đoán:
- Dựa vào khai thác tiền sử của bệnh nhân và làm xét nghiệm khảo sát chức năng gan, thận để phát hiện nguy cơ tai biến trên bệnh nhân .
- Dựa vào các triệu chứng bất thường xuất hiện do bệnh nhân tự nhận thấy và do bác sĩ phát hiện ra trong quá trình khám bệnh .(Bác sĩ cần lưu ý bệnh nhân những tác dụng phụ có thể xảy ra và yêu cầu báo ngay cho bác sĩ khi có triệu chứng bất thường xuất hiện).
- Dựa vào các xét nghiệm định kỳ, đặc biệt là men gan.
- Hỏi xem trong thời gian dùng thuốc điều trị lao, người bệnh có uống nhiều rượu, bia hoặc sử dụng thêm các thuốc có hại cho gan và thận không, vì hầu hết các thuốc trị lao đều độc cho gan và được thải qua thận.
Nguyên tắc xử trí :
- Ngừng thuốc để phản ứng có hại không nặng nề hơn.
- Xác định thuốc gây phản ứng.
- Điều trị triệu chứng .
+Tai biến nhẹ
Theo dõi tốc độ tiến triển .
Điều trị triệu chứng .
Xem lại liều lượng thuốc .
Chuyển thời gian uống thuốc vào bữa ăn .
+ Tai biến nặng
Đưa vào bệnh viện điều trị và theo dõi .
Không dùng lại thuốc đó .
- Tốt nhất là sử dụng những thuốc chống lao khác thay thế để bảo đảm nguyên tắc điều trị.
- Sử dụng liệu pháp giải mẫn cảm để dùng thuốc lại dưới sự bảo vệ của Corticoid .
- Tiếp tục điều trị bằng những thuốc không gây phản ứng .
- Sử dụng thuốc liều thấp nhất có thể để hạn chế những phản ứng có hại.
- Khám kĩ bệnh nhân để phát hiện bệnh kèm theo, cơ địa đặc biệt , thuốc khác đang điều trị phối hợp .
Khi thuốc chống lao gây những phản ứng độc hại, người bệnh không được tự ý bỏ trị mà phải đến ngay các cơ sở y tế đang theo dõi và chăm sóc để báo cáo. Ngược lại nhân viên y tế chăm sóc phải kịp thời phát hiện, giải thích hướng dẫn và kịp thời xử lý. Người bệnh sẽ được chỉ định tùy theo mức độ và loại phản ứng độc hại do sử dụng thuốc .
· Cần lưu ý rằng người bệnh lao khi có những phản ứng do thuốc chống lao nếu không được theo dõi sát và hướng dẫn sẽ bỏ điều trị. Việc bỏ trị làm cho bệnh tiếp tục tiến triển, gây tổn thương nặng nề hơn và rất nguy hiểm là làm cho vi khuẩn lao kháng lại các thuốc chống lao. Điều trị lại không khỏi bệnh và trở thành nguồn lây gieo rắc bệnh lao kháng thuốc trong cộng đồng .
II. CHẨN ĐOÁN VÀ XỬ TRÍ MỘT SỐ TÁC DỤNG PHỤ THƯỜNG GẶP TRÊN LÂM SÀNG CỦA THUỐC KHÁNG LAO
Xử trí một số tác dụng phụ thuờng gặp
(Ban hành kèm theo Quyết định số 979 /QĐ-BYT ngày 24 tháng 3 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Y tế)
Thuốc
Tác dụng phụ
Cách xử lý
Loại nhẹ:
R
Buồn nôn, nôn mửa, đau bụng
Uống thuốc sau bữa ăn buổi tối
R
Nước tiểu đỏ hoặc da cam
Tiếp tục dùng
Z
Đau khớp
Aspirin hoặc thuốc kháng viêm không Steroid
H
Cảm giác nóng bỏng ở chân.
Pyridoxin 50 – 70 mg/ngày
S,H,R,Z
Ngứa, phát ban ngoài da
Ngưng thuốc, giải mẫn cảm và thử dùng lại.
Loại nặng:
R
Xuất huyết da, thiếu máu tan huyết, suy thận cấp
Ngưng R, không bao giờ dùng lại
R
Sốc và purpura(viêm trợt da)
Ngừng Rifampicin
S
Sốc phản vệ
Ngưng S, thay bằng E, không dùng lại
S
U tai, chóng mặt, điếc
Ngưng S, thay bằng E
E
Giảm thị lực (trừ căn nguyên khác)
Ngưng E
R,Z,H
Vàng da, viêm gan
(trừ căn nguyên khác)
Ngưng thuốc chờ hết viêm gan,
thử dùng lại H, R
Những tác dụng phụ thường gặp trong lúc dùng thuốc chữa lao:
Trong thực tế, nếu dùng liều lượng theo tiêu chuẩn và phù hợp với cơ địa của bệnh nhân, tai biến do thuốc ít khi gặp, hoặc nếu có cũng nhẹ hoặc thoáng qua, không cần thay đổi điều trị. Những tác dụng phụ nhẹ thường gặp là:
- Bần thần, cảm giác này có thể kéo dài khoảng 30 phút đến 1-2 giờ, thường chỉ xảy ra trong 5-7 ngày đầu mới điều trị, sau đó người bệnh sẽ không còn cảm giác này.
- Nước tiểu có màu đỏ, là màu của thuốc rifampicin, khi ngưng thuốc nước tiểu sẽ có màu như cũ. Đây cũng là dấu hiệu giúp bác sĩ nhận biết bệnh nhân có dùng thuốc này hay không.
- Sạm da, thường là do thuốc pyrazinamid, để giảm bớt tác dụng phụ này không nên đi ra ngoài trời nắng, nếu phải đi thì mặc áo dài tay, mang khẩu trang, đội nón... để hạn chế phần da tiếp xúc ánh sáng. Khi ngưng uống PZA thì triệu chứng trên cũng dần dần biến mất.
- Nổi sẩn ngứa, thường chỉ cần chữa triệu chứng, sẩn ngứa sẽ từ từ giảm đi rồi hết.
- Tê rần ở môi sau khi tiêm thuốc streptomycin cũng chỉ là triệu chứng thoáng qua, không cần điều trị.
- Nóng rát ở chân, tê tay chân là do Isoniazid, điều trị với vitamin B6 liều thấp 15mg-50mg mỗi ngày.
- Đau khớp, chỉ cần điều trị triệu chứng; ở người có tiền sử bệnh gút, PZA có thể làm tăng axit uric máu và làm khởi phát cơn gút cấp, điều trị như cơn gút cấp.
- Đau hoặc thấy khó chịu ở vùng thượng vị, gây buồn nôn: thường là nhẹ, chỉ cần chữa triệu chứng hoặc thay vì uống thuốc lúc bụng đói có thể ăn nhẹ như cháo, xúp, uống sữa... trước khi uống thuốc triệu chứng này cũng sẽ khỏi.
Trong lúc đang điều trị, nếu thấy các triệu chứng như vàng da, vàng mắt; thị lực giảm, ù tai chóng mặt, sốt có kèm theo nổi mẩn ngứa, ban xuất huyết... là những triệu chứng nặng phải báo cho bác sĩ biết ngay, không được tự ý tiếp tục dùng thuốc.
Biện pháp đề phòng tai biến do thuốc điều trị lao:
Trước khi điều trị: cần khai thác kỹ tiền sử của bệnh nhân và làm xét nghiệm khảo sát chức năng gan, thận.
Trong khi điều trị:
* Dùng thuốc đúng liều và phù hợp với cơ địa của người bệnh.
* Lưu ý bệnh nhân những tác dụng phụ có thể xảy ra và yêu cầu báo ngay cho bác sĩ khi có triệu chứng bất thường xuất hiện.
* Làm xét nghiệm định kỳ, đặc biệt là men gan.
* Trong thời gian dùng thuốc điều trị lao, người bệnh không được uống rượu, bia và hạn chế hoặc tránh sử dụng thêm các thuốc có hại cho gan và thận, vì hầu hết các thuốc trị lao đều độc cho gan và được thải qua thận.
NGUỒN DIENDANYDUOC.NET
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)