Hiển thị các bài đăng có nhãn chuyên ngành. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chuyên ngành. Hiển thị tất cả bài đăng

Cái chết âm thầm từ việc lạm dụng kháng sinh

Hầu hết kháng sinh - "kho vũ khí chống lại nhiễm khuẩn" - đang dần dần vô tác dụng, do vi khuẩn đã nhờn thuốc nghiêm trọng. Hôm nay, lần đầu tiên Tổ chức Y tế Thế giới đưa ra cảnh báo con người có nguy cơ quay trở lại thời kỳ trước khi có kháng sinh.

Bị hắt hơi, sổ mũi, ho, đầu đầu..., người bệnh đều có thể dễ dàng mua được thuốc chữa bệnh, kể cả kháng sinh mà không cần đơn ở bất kỳ hiệu thuốc nào. Tình trạng người dân tự "kê" thuốc cho mình và người thân, dược sĩ làm thay công việc kê đơn của bác sĩ tại Việt Nam khá phổ biến.

UNG THƯ PHẾ QUẢN - PHỔI NGUYÊN PHÁT

Bệnh học Nội khoa - Đại học Y Huế
I. ĐẠI CƯƠNG 
Ung thư phế quản phổi nguyên phát (UTPQPNP) hiện nay có tần suất đang tăng lên một cách đáng sợ. 
Là nguyên nhân gây tử vong do ung thư hàng đầu ở nam và hàng thứ 4 ở nữ. Bệnh nguyên chủ yếu là thuốc lá. Phát hiện thường muộn nên điều trị khó, vì vậy tiên lượng luôn luôn nặng. 

Trào ngược dạ dày thực quản: điều trị và xu hướng phát triển thuốc

Bệnh trào ngược dạ dày - thực quản không đơn thuần là do sự rối loạn vận động của dạ dày - thực quản mà còn do rất nhiều yếu tố liên quan đến nó.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh trào ngược dạ dày thực quản là một trong những bệnh phổ biến trong dân số. Theo một nghiên cứu của Hoa Kỳ thì có khoảng 44% người trưởng thành bị trào ngược ít nhất là một lần mỗi tháng. Ở Việt Nam, chưa có thống kê về tỉ lệ bệnh này trong dân số nhưng nó là một bệnh thường gặp ở những bệnh nhân có các triệu chứng dyspepsia (như đầy hơi, đầy bụng, ăn không tiêu, đau thượng vị, ợ nóng, trớ, …) với tần suất là 15,4%, cao hơn tần suất của loét dạ dày (8,2%) và loét tá tràng (6,7%). Bệnh ngày càng có xu hướng gia tăng và triệu chứng trào ngược điển hình có thể không phải là than phiền chính của bệnh nhân trong nhiều trường hợp nên bệnh dễ bị bỏ sót. Nếu không điều trị kịp thời và đúng cách, bệnh trào ngược dạ dày - thực quản mạn tính có thể gây biến chứng như viêm, loét thực quản, thậm chí là ung thư thực quản.

Giới thiệu phẫu thuật cắt đầu tụy tá tràng

Phẫu thuật cắt đầu tụy tá tràng là một phẫu thuật lớn và phức tạp trong chuyên ngành tiêu hóa.
Sự phức tạp bởi giải phẫu định khu tại chỗ và kết hợp với  sự thâm nhiễm của tổ chức ung thư tới các tạng lân cận nhất là các bó mạch trong đó có bó mạch mạc treo tràng trên. Hơn nữa các miệng nối tụy-ruột, mật- ruột sau mổ có tỉ lệ tai biến  và  biến chứng cao (20-30 %) và tử vong sau mổ cao (5-7 %). Đặc biệt các  bệnh lý ung thư vùng đầu tụy sau phẫu thuật sống sau 5 năm còn thấp (10-15 %) nên khiến cho các phẫu thuật viên e ngại khi thực hiện loại phẫu thuật này.

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị phẫu thuật bệnh u nang giáp móng

Khối u bất thường bẩm sinh hay gặp nhất ở vùng cổ là u nang giáp móng. Nó là biểu hiện của việc tồn tại ống giáp lưỡi mà vì một lí do nào đó không bị teo đi sau khi sinh.
Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị phẫu thuật bệnh u nang giáp móng
Khối u bất thường bẩm sinh hay gặp nhất ở vùng cổ là u nang giáp móng. Nó là biểu hiện của việc tồn tại ống giáp lưỡi mà vì một lí do nào đó không bị teo đi sau khi sinh.

Thuốc lá và da

BS. Võ Thị Bạch Sương
Đại học Y Dược TP. HCM
I.       ĐẠI CƯƠNG
Thuốc lá là cây trồng sống một năm, nguồn gốc ở Trung và Nam Mỹ, con người đã biết trồng và sử dụng thuốc lá từ rất lâu. Qua chuyến thám hiểm của CHRISTOPHE COLOMB, người ta đã thấy dân ở đảo Antyl đốt trên miệng một loại lá cây tròn mà người bản xứ gọi là tobacco.
Theo thời gian việc sử dụng các sản phẩm thuốc lá biến chuyển qua các dạng khác nhau. Đầu tiên thuốc lá dùng để nhai và ngửi, sau đó chuyển qua hút với tẩu, với ống điếu và dạng xì gà. Khi con người biết sản xuất các loại giấy mỏng thì việc sử dụng thuốc lá ở dạng thuốc điếu trở nên phổ biến nhất. 

Tìm hiểu về hiến máu nhân đạo

Trung tâm Hiến máu Nhân đạo Hội CTĐ TP.HCM
1. Người hiến máu nhân đạo (HMNĐ) phải là người như thế nào?
a)      Là người khỏe mạnh, không có tiền căn bệnh về máu, có tinh thần nhân đạo, tự nguyện, cứu giúp người bệnh.
b)      Là người hiểu biết về hiến máu, có ý thức về hiến máu an toàn cho người bệnh.
c)      Là người có trách nhiệm vận động thêm người khỏe mạnh đến hiến máu.

Tìm hiểu về hiến máu nhân đạo

Trung tâm Hiến máu Nhân đạo Hội CTĐ TP.HCM
1. Người hiến máu nhân đạo (HMNĐ) phải là người như thế nào?
a)      Là người khỏe mạnh, không có tiền căn bệnh về máu, có tinh thần nhân đạo, tự nguyện, cứu giúp người bệnh.
b)      Là người hiểu biết về hiến máu, có ý thức về hiến máu an toàn cho người bệnh.
c)      Là người có trách nhiệm vận động thêm người khỏe mạnh đến hiến máu.

Ưu và nhược của thuốc ức chế COX-2

TS.DS. Nguyễn Hữu Đức
Đại học Y Dược TP.HCM
Trước đây, các thuốc chống viêm không steroid (NSAID) cổ điển như aspirin, diclofenac, naproxen, ibuprofen... được dùng phổ biến để điều trị viêm đau trong các bệnh lý xương khớp như viêm xương khớp (thoái hóa khớp) và viêm khớp dạng thấp nhờ có tác dụng chống viêm giảm đau. Các NSAID có tác dụng chống viêm giảm đau do ức chế cyclooxygenase (viết tắt là COX) là enzym tham gia tổng hợp các prostaglapdin    (PG) từ acid arachidonie.

Dị ứng corticosteroids

BS. Trần Thế Viện
BM. Da Liễu
Đại học Y dược TP.HCM
MỞ ĐẦU
Vào những năm 1950, một kỷ nguyên mới của điều trị bệnh da đã mở ra khi hydrocortisone, một hormone dạng glucocorticosteroid tự nhiên ở người, được quan sát có những ích lợi trong điều trị những bệnh da viêm và tăng sinh. Ngoài hydrocortisone, một vài corticosteroids mới cũng đã được phát hiện và thử nghiệm trên những bệnh da khác nhau, và việc sử dụng những chất này ngày càng trở nên phổ biến. Corticosteroids hiện nay vẫn là thuốc chính trong điều trị những bệnh da có triệu chứng viêm và cũng được dùng nhiều trong bệnh nội khoa khác nhau.

Chỉ số IQ và phương pháp xác định IQ


ThS. Lý Minh Tiên
P.Trưởng khoa Tâm lý Giáo dục
Trường Đại học Sư PhạmTP.HCM
DÀN BÀI:
1. IQ là gì?
2.      Phương pháp đo IQ.
- Một chút bàn luận.
- Công thức tính IQ.
- Minh họa các câu test đo IQ.
3. Những điều nói thêm về IQ.
4. Giới thiệu trang web để tự kiểm tra IQ.
-------------
IQ LÀ GÌ?
IQ là ký hiệu lấy hai chữ cái đầu của từ tiếng Anh là “Intelligence Quotient”, thường dịch là thương số trí tuệ hay còn gọi là chỉ số thông minh. Chỉ số này của mỗi người nói lên năng lực trí tuệ của người đó. Ta có thể hình dung khả năng đó qua câu chuyện sau đây:

Bệnh trĩ

BS. Dương Phước Hưng
Đại học Y Dược TP. HCM
1-Bệnh trĩ là gì?

Là bệnh được tạo thành do dãn quá mức các đám rối tĩnh mạch trĩ.
Là bệnh rất phổ biến, đứng hàng đầu trong các bệnh lý vùng hậu môn đến nhập viện.
Bệnh nhân mắc bệnh trĩ thường đi khám và điều trị rất muộn sau nhiều năm, vì bệnh tuy có ảnh hưởng tới cuộc sống nhưng không nặng nề nên bệnh nhân thường bỏ qua và vì bệnh ở vùng kín đáo nên bệnh nhân thường ngại ngùng nhất là phụ nữ.

2-Triệu chứng nào đưa bệnh nhân đến khám bệnh?

Có 2 triệu chứng chính đưa bệnh nhân đi khám bệnh là chảy máu và sa búi trĩ.
-Chảy máu là triệu chứng có sớm nhất và thường gặp nhất. Đây là một trong những lý do đưa bệnh nhân đến khám. Lúc đầu chảy máu rất kín đáo, tình cờ bệnh nhân phát hiện khi nhìn vào giấy chùi vệ sinh sau khi đi cầu hoặc nhìn vào phân thấy vài tia máu nhỏ dính vào thỏi phân rắn. Về sau mổi khi đi cầu phải rặn nhiều do táo bón thì máu chảy thành giọt hay thành tia. Muộn hơn nữa cứ mỗi lần đi cầu, mỗi lần đi lại nhiều, mỗi lần ngồi xổm máu lại chảy. có khi máu chảy rất nhiều bắt bệnh nhân phải vào cấp cứu. Đôi khi máu từ búi trĩ chảy ra đọng lại trong lòng trực tràng rồi sau đó mới đi cầu ra nhiều máu cục.
-Sa búi trĩ: thường xảy ra trễ hơn sau một thời gian đi cầu có chảy máu, lúc đầu sau mỗi khi đại tiện thấy có khối nhỏ lồi ra ở lỗ hậu môn, sau đó khối đó tự tụt vào được. Càng về sau khối lồi ra đó to lên dần và không tự tụt vào sau khi đi cầu nữa mà phải dùng tay nhét vào. Cuối cùng khối sa đó thường xuyên nằm ngoài hậu môn.
-Ngoài 2 triệu chứng chính trên, bệnh nhân có thể có kèm theo các triệu chứng khác như đau khi đi cầu, ngứa quanh lỗ hậu môn. Thông thường trĩ không gây đau, triệu chứng đau xảy ra khi có biếng chứng như tắc mạch, sa trĩ nghẹt hay do các bệnh khác ở vùng hậu môn như nứt hậu môn, áp xe cạnh hậu môn… Triệu chứng ngứa xảy ra do búi trĩ sa ra ngoài và tiết dịch gây viêm da quanh hậu môn làm cho bệnh nhân cảm thấy hậu môn lúc nào cũng có cảm giác ướt và ngứa.

3-Lầm lẫn bệnh trĩ với các bệnh khác?

Do triệu chứng chính thường dẫn bệnh nhân đến khám là chảy máu, sa trĩ và đau là các triệu chứng có thể gặp trong nhiều bệnh khác nên dễ lầm lẫn nếu không đi khám. Với triệu chứng chảy máu có bệnh ung thư hậu môn trực tràng cũng cho triệu chứng giống như vậy, nếu bệnh nhân cứ cho là mình bị bệnh trĩ không đi khám đến khi ung thư phát triển to thì không còn khả năng điều trị được. Ngoài ung thư, hậu môn trực tràng có bệnh cũng cho dấu hiệu chảy máu như vậy là polype trực tràng, đây là bệnh cần can thiệp cắt bỏ thì mới hết bệnh chứ không thể điều trị bằng thuốc. Búi trĩ sa ra ngoài thường lầm với sa trực tràng, hai bệnh có cách điều trị khác nhau.

4-Nguyên nhân và yếu tố thuận lợi gây bệnh trĩ?

Nguyên nhân của bệnh chưa được xác định rõ ràng và chắc chắn. Những yếu tố sau đây được coi như là những điều kiện thuận lợi cho bệnh phát sinh:
-Táo bón kinh niên: Những bệnh nhân này mỗi khi đi cầu rặn nhiều, khi rặn áp lực trong lòng ống hậu môn tăng lên gấp 10 lần. Táo bón lâu ngày làm xuất hiện các búi trĩ. Các búi trĩ dần dần to lên và khi to quá sẽ sa ra ngoài.
-Hội chứng lỵ: Những bệnh nhân bị bệnh lỵ mỗi ngày đại tiện nhiều lần và mỗi lần đại tiện phải rặn nhiều làm tăng áp lực trong ổ bụng.
-Tăng áp lực ổ bụng: Những bệnh nhân viêm phế quản mạn tính, những bệnh nhân dãn phế quản, phải ho nhiều, những người làm lao động nặng như khuân vác... làm tăng áp lực trong ổ bụng, dễ dàng cho bệnh trĩ xuất hiện.
-Tư thế đứng: khi nghiên cứu áp lực tĩnh mạch trĩ, người ta ghi nhận áp lực tĩnh mạch trĩ  là 25cm H2O ở tư thế nằm, tăng vọt lên 75cm H2O ở tư thế đứng. Vì vậy, tỉ lệ mắc bệnh trĩ ở người phải đứng lâu, ngồi nhiều, ít đi lại như thư ký bàn giấy, nhân viên bán hàng, thợ may v…v…
-U bướu hậu môn trực tràng và vùng chung quanh: như ung thư  trực tràng, u bướu vùng tiểu khung, thai nhiều tháng… khi to có thể chèn ép và cản trở đường về  tĩnh mạch hồi lưu làm cho các đám rối trĩ căng phồng lên tạo thành bệnh trĩ. Trong những trường hợp này, trĩ được tạo nên do những nguyên nhân cụ thể, rõ ràng nên được gọi là trĩ triệu chứng, khi điều trị ta phải điều trị nguyên nhân chứ không trị như bệnh trĩ.

5- Điều trị

Người ta chỉ điều trị khi trĩ gây những rối loạn ảnh hưởng đến sinh hoạt và năng suất lao động của người bệnh.

Ngăn chặn các yếu tố thuận lợi phát sinh bệnh trĩ:

- Tập thói quen đi cầu đều đặn hàng ngày.
- Điều chỉnh thói quen ăn uống:
Tránh các chất kích thích như cà phê, rượu, trà.
Tránh các thức ăn nhiều gia vị như ớt, tiêu.
Uống nước đầy đủ.
Ăn nhiều chất xơ.
-Vận động thể lực: nên tập thể dục và chơi các môn thể thao nhẹ như bơi lội, đi bộ…
-Điều trị các bệnh mãn tính hiện có như viêm phế quản, dãn phế quản, bệnh lỵ …

Điều trị nội khoa:

- Vệ sinh tại chỗ tốt bằng phương pháp ngâm nước ấm 2 – 3 lần/ngày, mỗi lần 15 phút.
- Thuốc uống: gồm các thuốc có tác nhân trợ tĩnh mạch, dẫn xuất từ flavonoid. Cơ chế tác động của các thuốc này là làm gia tăng trương lực tĩnh mạch, bảo vệ vi tuần hoàn, giảm phù nề nhờ tác động kháng viêm tại chỗ, chống nhiễm trùng và chống tắc mạch.
     - Thuốc tại chỗ: gồm các loại thuốc mỡ (pommade) và đạn dược (suppositoire) bao gồm các tác nhân kháng viêm, vô cảm tại chỗ và dẫn xuất trợ tĩnh mạch.
 
 Điều trị bằng thủ thuật:
 
1-Chích xơ:
      Là phương pháp dễ thực hiện, đơn giản, nhanh chóng và an toàn. Tuy nhiên, người thực hiện thủ thuật phải là bác sĩ  có kinh nghiệm với kỹ thuật vững vàng mới cho kết quả tốt và tránh được các biến chứng. Mục đích chính của chích xơ là giảm lưu lượng máu đến búi trĩ, tạo mô sẹo xơ dính vào lớp cơ dưới lớp dưới niêm mạc giúp giảm triệu chứng chảy máu.
Chích xơ được chỉ định trong trĩ độ 1 và trĩ độ 2,
Trong kỹ thuật chích xơ cần chú ý một số việc:
- Sử dụng đúng loại kim: Kim dài, có ngạnh chặn ở gần đầu kim để tránh xuyên thấu sâu, nếu có kim gập góc thì rất tốt, ống chích chuyên dùng. Thuốc chích xơ thường dùng hiện nay là dầu phenol 26 và polidocanol.
-Vị trí chích là ở gốc búi trĩ, nằm trên đường lược và ở đáy búi trĩ.  Khối lượng thuốc bơm khoảng 3-5 ml, bom chậm, trong lúc bom thuốc nếu thấy chỗ chích đổi màu trắng là  chích vào lớp thượng bì, ngừng chích ngay vì sẽ gây biến chứng loét hoại tử sau chích. Vị trí chích thông thường là ở 4giờ , 7giờ và 11giờ.
-Biến chứng:
*Chảy máu chỗ chích: nếu phát hiện trong lúc chích dùng gạc đè vào, nếu không giảm dùng dụng cụ thắt trĩ bằng vòng cao su thắt vùng chảy máu.
*Chích vào tuyến tiền liệt: trong trường hợp chích quá sâu ở vị trí 11giờ-1giờ có thể gặp biến chứng bí tiểu, viêm mào tinh và tinh hoàn, viêm tuyến tiền liệt, rò hậu môn âm đạo…

2-Thắt trĩ bằng vòng cao su:
Thắt trĩ bằng vòng cao su được chỉ định điều trị trĩ nội độ 1 và 2, một số tác giả áp dụng cho cả trĩ nội độ 3 nhưng kết quả giới hạn.
 Thắt trĩ bằng vòng cao su đã được thực hiện từ thế kỷ 19 nhưng vì cột búi trĩ chung với cả da quanh hậu môn nên sau thắt rất đau, cho nên không được sử dụng rộng rải. Đến năm 1958 Blaisdell đã thành công với việc chỉ cột búi trĩ không có lẫn da và các mô chung quanh. Barron 1963 đã tạo ra dụng cụ để thắt trĩ với vòng cao su và sau đó với dụng cụ cải tiến của Mc Giveny đã đưa điều trị thắt trĩ với vòng cao su thành một phương pháp điều trị trĩ thành công và được lựa chọn hàng đầu trong các phương pháp điều trị bằng thủ thuật.
Nguyên tắc chính của thắt vòng cao su là giảm lưu lượng máu đến búi trĩ, tạo mô sẹo xơ dính vào lớp cơ dưới lớp dưới niêm mạc, do đó sẽ cố định ống hậu môn đúng với nguyên tắc bảo tồn lớp đệm hậu môn.

3-Quang đông hồng ngoại:
  Phương thức sử dụng nhiệt điều trị trĩ đã được thực hiện hàng trăm năm nay. Mục tiêu của phương pháp làm đông là làm cho mô bị đông lại bởi tác động của sức nóng, tạo nên sẹo xơ làm giảm lưu lượng máu đến búi trĩ và cố định trĩ vào ống hậu môn. Với tia Laser, dòng điện cao tần cũng có tác động làm đông như tia hồng ngoại, nhưng sự chính xác về độ sâu xuyên thấu của tác động làm đông của 2 phương pháp này không chính xác bằng tia hồng ngoại với máy quang đông. Sự xuyên thấu mô của tia hồng ngoại được định trước bằng cách điều chỉnh tốc độ của tia và độ hội tụ chính xác trên lớp mô này. Máy quang đông hồng ngoại có lợi là không gây nhiễu các dụng cụ điện tử gắn trên người bệnh như máy điều hòa nhịp tim.
Quang đông hồng ngoại được chỉ định với trĩ nội độ 1 và độ 2. Phương pháp này có ưu điểm là không đau, an toàn, cầm máu rất hiệu quả nhưng có nhược điểm là máy khá đắt và thường phải làm thủ thuật nhiều lần.        

PHẪU THUẬT

Với các phát hiện về sinh bệnh học và giải phẫu học, từ thập niên 90 có các phương pháp phẫu thuật mới như khâu treo trĩ, phẫu thuật Longo, khâu cột động mạch trĩ dưới hướng dẫn của siêu âm Doppler. Các phương pháp phẫu thuật mới này dựa trên nguyên tắc bảo tồn lớp đệm hậu môn, giảm lưu lượng máu đến búi trĩ và cố định mô trĩ vào ống hậu môn. Với các phương pháp phẫu thuật sau này, vùng phẫu thuật nằm trên cột Morgagni, là vùng không có các tiếp nhận cảm giác, do đó khi phẫu thuật vùng này có lợi điểm là không đau.
  
Hình 1 : Vị trí phẫu trường của 2 nhóm phẫu thuật

1-Nhóm phẫu thuật 1: gồm 2 nhóm phẫu thuật
a-Phẫu thuật cắt khoanh niêm mạc:
Phẫu thuật Whitehead: nguyên tắc là cắt khoanh niêm mạc và lớp dưới niêm mạc có các búi tĩnh mạch trĩ, sau đó  kéo niêm mạc từ trên xuống khâu với da ở hậu môn. Phương pháp này hiện nay hầu như không được sử dụng vì để lại nhiều biến chứng nặng nề như hẹp hậu môn, đại tiện mất tự chủ và rỉ dịch ở hậu môn. Nhưng vì tính chất triệt để của phẫu thuật nên nhiều tác giả vẫn sử dụng nguyên tắc của phẫu thuật này nhưng cải biên lại để làm giảm các biến chứng, ví dụ phẫu thuật Toupet.

b-Phẫu thuật cắt từng búi trĩ:
Nguyên tắc phẫu thuật này là cắt riêng biệt từng búi trĩ một, để lại ở giữa các búi trĩ các mảnh da-niêm mạc (cầu da niêm mạc). Nhóm phẫu thuật này gồm có  PT Milligan Morgan (1937), PT Ferguson (1959), PT Parks (1965), PT BV Việt Đức (Nguyễn Đình Hối, 1966).
 Nhóm phẫu thuật này gồm2 nhóm chính là:
- Cắt trĩ mở: PT Milligan Morgan , PT Nguyễn Đình Hối 
- Cắt trĩ kín:  PT Ferguson.
Nhóm phẫu thuật này tránh được các biến chứng của nhóm phẫu thuật cắt khoanh niêm mạc da, nhưng vẫn còn nhược điểm là đau sau mổ, thời gian nằm viện dài, thời gian trở lại lao động muộn và không hiệu quả trong các trường hợp trĩ vòng.

2-Nhóm phẫu thuật 2:
Xuất phát từ các nhược điểm của nhóm phẫu thuật dưới cột Morgagni và các phát hiện mới về sinh bệnh học, từ thập niên 90, dựa trên nguyên tắc bảo tồn khối đệm hậu môn, giảm lưu lượng máu đến búi trĩ và thu nhỏ thể tích khối trĩ, một số phẫu thuật mới đã ra đời với nguyên tắc treo hậu môn như PT Longo, khâu treo trĩ bằng tay và nguyên tắc thu nhỏ thể tích khối trĩ như PT khâu cột động mạch trĩ dưới hướng dẫn của siêu âm Doppler.

a-PT Longo (1993) (hình 1):
Là phẫu thuật sử dụng máy khâu vòng để cắt một khoanh niêm mạc trên đường lược 2-3 cm và khâu vòng bằng máy bấm. Nguyên tắc của phẫu thuật này là cắt và khâu khoanh niêm mạc, nhằm mục đích giảm lưu lượng máu đến đám rối tĩnh mạch trĩ để thu nhỏ thể tích trĩ và treo được đệm hậu môn vào ống hậu môn. Phương pháp này được ưa chuộng vì không đau, thời gian nằm viện ngắn, trả bệnh nhân về lao động sớm, nhược điểm này là chi phí cao, chưa được đánh giá đầy đủ về hiệu quả do thời gian theo dõi còn ngắn 15.
 
  Hình 1: Phẫu thuật Longo

b-Khâu treo trĩ bằng tay:
Đây là phương pháp cải biên của phẫu thuật Longo ở các nước đang phát triển do giá thành cao của PT Longo . PT này đã được Ahmed M Hussein, Nguyễn Mạnh Nhâm, Nguyễn Trung Vinh, Nguyễn Trung Tín báo cáo ở các hội nghị. Phương pháp này cũng dựa trên nguyên tắc của phẫu thuật Longo là làm giảm lưu lượng máu đến búi trĩ để thu nhỏ thể tích khối trĩ và treo búi trĩ  lên ống hậu môn bằng các mũi khâu tay khâu xếp nếp niêm mạc trên đường lược 2-3 cm. Phương pháp này chỉ mới được báo cáo sau năm 2001.

c-Khâu cột động mạch trĩ dưới hướng dẫn của siêu âm Doppler (hình 2):
Hình 2: Máy Moricorn và ống soi hậu môn có đầu dò siêu âm Doppler

Phương pháp này được Kazumasa Morinaga thực hiện lần đầu  năm 1995, với một dụng cụ có tên là Moricorn, là một máy gồm một đầu dò siêu âm Doppler gắn liền trong một ống soi hậu môn, qua dụng cụ này tác giả dò tìm 6 động mạch, là những nhánh tận của động mạch trực tràng trên, và các nhánh động mạch này được khâu cột ở vị trí trên đường lược 2cm.
Nguyên tắc của phương pháp này là làm giảm lưu lượng máu đến các búi trĩ, chỉ áp dụng cho trĩ nội độ 2 và 3, ưu điểm của phương pháp này là không đau và bảo tồn được đệm hậu môn.
Cả ba phương pháp này không giải quyết được các trường hợp trĩ nội tắc mạch và các trường hợp có mẫu da thừa lớn.
Text Box:  
 
Chỉ định điều trị:
 
-Trĩ có thể là bệnh, có thể là triệu chứng của một bệnh khác. Chỉ được phẫu thuật khi là trĩ bệnh . Một sai lầm thường mắc phải là cắt trĩ cho một bệnh nhân bị ung thư trực tràng. Có thể trĩ là triệu chứng của ung thư trực tràng, có thể là ung thư trực tràng xuất hiện trên một bệnh nhân có trĩ đã lâu. Vì vậy, trước khi mổ phải khẳng định không có các thương tổn thực thể khác ở vùng hậu môn trực tràng.
 
-Trĩ có thể điều trị khỏi bằng nội khoa hay các phương pháp vật lý. Vì vậy, phẫu thuật chỉ nên được xem là phương sách cuối cùng khi các phương pháp kể trên không hiệu quả, bởi vì phẫu thuật can thiệp vào giải phẫu học và sinh lý học bình thường và có thể kèm theo các di chứng nặng nề khó sửa chữa.
 
-Chỉ định mổ áp dụng cho trĩ nội độ 3, độ 4, trĩ có huyết khối, trĩ vòng sa và trĩ xuất huyết trầm trọng.
 
-Trĩ ngoại: Trĩ ngoại không có chỉ định điều trị thủ thuật và phẫu thuật trừ khi có biến chứng nhiễm trùng, lở loét hay tắc mạch tạo thành những cục máu đông nằm trong các búi trĩ. Phẫu thuật điều trị tắc mạch trong cấp cứu là rạch lấy cục máu đông. Ngay sau mổ bệnh nhân cảm thấy dễ chịu và hết đau ngay.

-Trĩ nội:
- Độ 1: chích xơ hoặc làm đông bằng nhiệt.
- Độ 2: làm đông bằng nhiệt, thắt bằng dây thun hay cắt trĩ.
- Độ 3: thắt bằng dây thun hay cắt trĩ.
- Độ 4: cắt trĩ.
- Trĩ sa nghẹt: dùng thuốc điều trị nội khoa và ngâm nước ấm cho đến khi búi trĩ hết phù nề, tại chỗ ổn định, sau đó mới mổ cắt trĩ.


 

Hội nghị Ung bướu nhi thế giới lần thứ 37


Vancouver, British Columbia, Canada
( 37th Congress of the International Society of Pediatric Oncology
Vancouver, British Columbia, Canada)
BS. Trần Chánh Khương
Trưởng khoa Ung Bướu nhi –  BV. Ung Bướu TP. HCM
I.       Đại cương:
Hội nghị Ung Bướu nhi thế giới lần thứ 37 là một sinh hoạt khoa học quan trọng, thường niên của Hiệp Hội Ung Bướu Nhi Quốc tế (SIOP).
Hội nghị thường được tổ chức luân phiên ở các nước hội viên như:
SIOP 2003, Oslo, Na Uy;  SIOP 2004, Cairo, Ai Cập;
SIOP 2005, Vancouver, BC, Canada.
Đơn vị tổ chức: Hiệp Hội Ung Bướu Nhi Quốc tế  SIOP International
                          Hiệp Hội Ung Bướu Nhi Canada
Thời gian: từ  20 – 24/9/2005
Địa điểm: Trung tâm Hội nghị và Triển lãm Quốc tế TP. Vancouver

CÁC BIỆN PHÁP NGỪA THAI


ThS. BS. Đặng Lê Dung Hạnh
Bệnh viện Hùng Vương, TPHCM

Biện pháp ngừa thai là cách sử dụng phương pháp, dụng cụ hay sản phẩm nhằm tránh hậu quả có thai của hành động sinh hoạt tình dục (theo wikipedia). Có nhiều biện pháp ngừa thai với các tác động khác nhau, trong đó, mục đích chính là ngăn không có sự gặp gỡ giữa trứng và tinh trùng dù có hành động giao hợp, hay muộn hơn, ngăn không cho trứng đã được thụ tinh với tinh trùng qua giao hợp làm tổ được trong lòng tử cung và từ đó đưa đến không có hiện tượng thụ thai. Như vậy, sẽ có ba cơ chế chính của các biện pháp ngừa thai: ngăn sự hoạt động của tinh trùng, ngăn sự rụng trứng hay ngăn trứng đã thụ tinh làm tổ. Một biện pháp ngừa thai có thể chỉ sử dụng một trong ba cơ chế hay cả ba cơ chế đồng thời.

DẤU HIỆU SINH HỌC UNG THƯ

TS. BS. Vũ Văn Vũ 
Bệnh Viện Ung Bướu TP. HCM

I.DẤU HIỆU SINH HỌC UNG THƯ LÀ GÌ?
Các dấu hiệu sinh học ung thư là các chất sinh học có thể tìm thấy được khi cơ thể mắc ung thư. Các dấu hiệu sinh học có thể được trực tiếp tạo ra từ các tế bào ung thư hoặc do cơ thể phản ứng lại ung thư hay các tình trạng khác. Các dấu hiệu sinh học thường được phát hiệu trong máu hoặc nước tiểu nhưng cũng có thể được tìm thấy ở khối bướu và các mô khác. Phần nhiều các dấu hiệu sinh học có bản chất hóa học là prôtêin.
Hiện có rất nhiều các dấu hiệu sinh học ung thư khác nhau. Một số dấu hiệu sinh học chỉ hiện diện đặc thù trên một loại ung thư nào đó, nhưng nhiều dấu hiệu sinh học khác có thể tìm thấy ở nhiều loại ung thư khác nhau.

ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM KHỚP DẠNG THẤP HIỆN TẠI VÀ TƯƠNG LAI

                                                                                            TS. BS Lê Anh Thư
                                                                                         Khoa Nội Cơ Xương Khớp
                                                                                    BV Chợ Rẫy TP. Hồ Chí Minh

I. ĐẠI CƯƠNG VỀ BỆNH VIÊM KHỚP DẠNG THẤP:
A. Tổng quan:
Viêm khớp dạng thấp (VKDT) là một bệnh tự miễn khá điển hình ở người, dưới dạng viêm mãn tính ở nhiều khớp ngoại biên với biểu hiện khá đặc trưng: sưng khớp, đau khớp, cứng khớp buổi sáng và đối xứng hai bên. Ngoài biểu hiện chính tại khớp, người bệnh còn có các biểu hiện toàn thân (mệt mỏi, xanh xao, sốt, gầy sút…) và tổn thương các cơ quan khác. Bệnh thường gặp ở nữ (75 %), lứa tuổi 30 đến 60.

Ăn mặn chẳng đẻ con trai, còn sinh trăm bệnh

Ăn mặn chẳng đẻ con trai, còn sinh trăm bệnh


Thứ Tư, ngày 15/12/2010, 12:45
(24h) - Ít người biết, không những không đẻ được con trai, ăn mặn còn sinh thêm đủ thứ bệnh.
“Ăn mặn đẻ con trai”, chẳng biết từ khi nào bí quyết này được dân “trọng nam khinh nữ” truyền miệng cho nhau để thực hành. Thế nhưng, ít người biết, không những không đẻ được con trai, ăn mặn còn sinh thêm đủ thứ bệnh.

Một số điều nên biết

1, Tại sao trong viêm tụy cấp thì nồng độ Ca2+ máu  lại giảm và ý nghĩa của  nó?
  Trong viêm tụy cấp, có sự hoại tử mỡ tạo nên hiện tượng xà phòng hóa giữa ion Ca2+ và acid béo [Phản ứng xà phòng hóa là pư giữa ion kim loại và acid béo]. Có người sẽ tự hỏi là tại sao không phải là Na+ hay K+ , thực chất các ion này đều tham gia pư nhưng chúng bị Ca2+ đuổi ra khỏi muối để tạo thành một muối ít tan hơn [ điều kiện để 2 muối phản úng với nhau là 2 muối tham gia phải tan và muối tạo thành ít tan hơn so với muối ban đầu hoặc kết tủa ]

ptpư Ca2+        +  2RCOONa            tạo nên:     2Na+        +      {RCOO}2Ca        [muối này ít tan hơn]

Khổ vì tin thầy lang!



Bệnh viện Đại học Y Hà Nội vừa tiếp nhận một trường hợp bị liệt và loạn dưỡng nặng vùng cẳng chân. Đây là hậu quả sau một tai nạn giao thông vỡ xương mâm chày được Bệnh viện đa khoa Thái Bình chỉ định phẫu thuật nhưng người bệnh đã từ chối và tự ý đi tìm thầy lang chữa trị một thời gian dài.
 Ca phẫu thuật chân cho bệnh nhân bị tai biến do bó thuốc của thầy lang.   Ảnh. Lê Hảo
Thế nào là "gai" cột sống?
Khi khối thoát vị lồi ra, sẽ kéo theo màng xương cạnh nó và lâu ngày xương sẽ mọc ra theo, tạo thành những vành xương mà trên phim X-quang ta nhìn thấy như những cái gai nên gọi là "gai" cột sống. Nếu khối thoát vị đĩa đệm gây đau tê hay yếu liệt, khi đi khám bệnh, các bác sĩ sẽ giải quyết nó trước khi "gai" hình thành. Các khối thoát vị không gây triệu chứng gì (thường thì do chúng không gây chèn ép vào thần kinh) nên mới có đủ thời gian để tạo ra những cái "gai". Vì vậy bạn chớ vội lo sợ khi biết mình có "gai" cột sống. Chỉ có rất ít những "gai" cần phải "nhổ" bỏ. Ngoài ra, mấu gai là tên gọi một bộ phận của cột sống, không liên quan gì đến loại "gai" mà chúng ta đang nói đến.