QUY ĐỊNH VỀ Y ĐỨC

QUY ĐỊNH VỀ Y ĐỨC

(Tiêu chuẩn đạo đức của người làm công tác y tế)

(Ban hành kèm theo quyết định số: 20881BYT-QĐ ngày 06 tháng 11nǎm 1996 của Bộ trưởng Bộ Y tế)

Y đức là phẩm chất tốt đẹp của người làm công tác y tế, được biểu hiện ở tinh thần trách nhiệm cao, tận tuỵ phục vụ, hết lòng thương yêu chǎm sóc người bệnh, coi họ đau đớn như mình đau đớn, như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "Lương y phải như từ mẫu". Phải thật thà đoàn kết, khắc phục khó khǎn, học tập vươn lên để hoàn thành nhiệm vụ, toàn tâm toàn ý xây dựng nền Y học Việt Nam. Y đức phải thể hiện qua những tiêu chuẩn, nguyên tắc đạo đức được xã hội thừa nhận.

1. Chǎm sóc sức khoẻ cho mọi người là nghề cao quý. Khi đã tự nguyện đứng trong hàng ngũ y tế phải nghiêm túc thực hiện lời dạy của Bác Hồ. Phải có lương tâm và trách nhiệm cao, hết lòng yêu nghề, luôn rèn luyện nâng cao phẩm chất đạo đức của thầy thuốc. Không ngừng học tập và tích cực nghiên cứu khoa học để nâng cao trình độ chuyên môn. Sẵn sàng vượt qua mọi khó khǎn gian khổ vì sự nghiệp chǎm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân.

2. Tôn trọng pháp luật và thực hiện nghiêm túc các quy chế chuyên môn. Không được sử dụng người bệnh làm thực nghiệm cho những phương pháp chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu khoa học khi chưa được phép của Bộ Y tế và sự chấp nhận của người bệnh.

3. Tôn trọng quyền được khám bệnh, chữa bệnh của nhân dân. Tôn trọng những bí mật riêng tư của người bệnh; khi thǎm khám, chǎm sóc cần bảo đảm kín đáo và lịch sự. Quan tâm đến những người bệnh trong diện chính sách ưu đãi xã hội. Không được phân biệt đối xử với người bệnh. Không được có thái độ ban ơn, lạm dụng nghề nghiệp và gây phiền hà cho người bệnh. Phải trung thực khi thanh toán các chi phí khám bệnh, chữa bệnh.

4. Khi tiếp xúc với người bệnh và gia đình họ, luôn có thái độ niềm nở, tận tình; trang phục phải chỉnh tề, sạch sẽ để tạo niềm tin cho người bệnh. Phải giải thích tình hình bệnh tật cho người bệnh và gia đình họ hiểu để cùng hợp tác điều trị; phổ biến cho họ về chế độ, chính sách, quyền lợi và nghĩa vụ của người bệnh; động viên an ủi, khuyến khích người bệnh điều trị, tập luyện để chóng hồi phục. Trong trường hợp bệnh nặng hoặc tiên lượng xấu cũng phải hết lòng cứu chữa và chǎm sóc đến cùng, đồng thời thông báo cho gia đình người bệnh biết.

5. Khi cấp cứu phải khẩn trương chẩn đoán, xử trí kịp thời không được đùn đẩy người bệnh.

6. Kê đơn phải phù hợp với chẩn đoán và bảo đảm sử dụng thuốc hợp lý an toàn; không vì lợi ích cá nhân mà giao cho người bệnh thuốc kém phẩm chất, thuốc không đúng với yêu cầu và mức độ bệnh.

7. Không được rời bỏ vị trí trong khi làm nhiệm vụ, theo dõi và xử trí kịp thời các diễn biến của người bệnh.

8. Khi người bệnh ra viện phải dặn dò chu đáo, hướng dẫn họ tiếp tục điều trị, tự chǎm sóc và giữ gìn sức khỏe.

9. Khi người bệnh tử vong, phải thông cảm sâu sắc, chia buồn và hướng dẫn, giúp đỡ gia đình họ làm các thủ tục cần thiết.

10. Thật thà, đoàn kết tôn trọng đồng nghiệp, kính trọng các bậc thầy, sẵn sàng truyền thụ kiến thức, học hỏi kinh nghiệm, giúp đỡ lẫn nhau.

11. Khi bản thân có thiếu sót, phải tự giác nhận trách nhiệm về mình không đổ lỗi cho đồng nghiệp, cho tuyến trước

12. Hăng hái tham gia công tác tuyên truyền giáo dục sức khỏe, phòng chống dịch bệnh, cứu chữa người bị nạn, ốm đau tại cộng đồng; gương mẫu thực hiện nếp sống vệ sinh, giữ gìn môi trường trong sạch.

LAO HỆ THỐNG TIÊU HÓA - BS.TRẦN THỊ KIM THU

ĐẠI CƯƠNG
_TB gây ra 3 triệu tử vong trên toàn cầu. Ước tính 2000 – 2020 khoảng 1 tỷ người bị nhiễm, 200 triệu người mắc bệnh và 35 triệu người tử vong.
_Trong thập niên vừa qua, có sự gia tăng đáng kể các thể lao ngoài phổi, trong đó có lao hệ thống tiêu hóa, ở cả nước đang và đã phát triển.
_Thể bệnh này thường gặp ở người trẻ, nhưng cũng có thể gặp ở bất cứ độ tuổi nào.
_Các yếu tố thuận lợi:
Do ảnh hưởng của dịch HIV trên toàn cầu
Những người vô gia cư, không nghề nghiệp
Sự di dân từ những nơi có mức độ nhiễm lao cao.
_Khoảng 20 - 25% bn lao hệ thống tiêu hóa có kèm lao phổi.
ĐỊNH NGHĨA
Lao hệ thống tiêu hóa là sự viêm nhiễm và tổn thương hệ thống tiêu hóa do trực khuẩn lao xâm nhập và gây nên.
Lao phổi có thể gặp ở bất cứ vị trí nào, nhưng thường gắp ở vùng hồi – manh tràng
SINH BỆNH HỌC
_Vi trùng gây bệnh thường do M.tuberculosis.
_Đôi khi do M.avium complex (MAC), luôn kết hợp với AIDS
_Lao hệ thống tiêu hóa thường thứ phát sau lao phổi. Bn nuốt đàm có chứa trực khuẩn lao
_Từ ổ lao nguyên phát BK có thể lan truyền theo: đường bạch huyết và đường máu để gây bệnh ở hệ tiêu hóa. Hoặc lây nhiễm từ ổ lao nguyên phát lân cận (như lao thận…)
_Có thể gặp lao ruột nguyên phát do thức ăn, nước uống bị nhiễm BK, vi trùng vào thẳng ruột và gây bệnh
GIẢI PHẪU BỆNH
1.Vi thể: Viêm, xơ hóa thành ống tiêu hóa, viêm hoại tử (Peyer) các hạch lympho vùng và thuyên tắc mạch à ổ loét làm dầy thành, xơ hóa và tạo dạng giống u à chít hẹp và dò hệ thống tiêu hóa.
2.Đại thể: 3 dạng
-Thể loét: (Chiếm 60%), nhiều ổ loét trên thành ruột, loét sâu (trục dọc của ổ loét vuông góc với trục dọc của ruột)
-Thể phì đại: (chiếm 10%) dầu thành ruột do xơ hóa, có thể tạo khối giả u như carcinoma
-Loét và phì đại: (chiếm 30%)
TRIỆU CHỨNG
1.TCCN
_Rất đa dạng: Đau bụng thường ở vị trí hố chậu phải, đau âm ỉ không lan.
_Phân lỏng có thể có đàm nhớt hoặc có máu. Hoặc táo bón (khoảng 1/3 trường hợp)
_Sốt nhẹ về chiều
_Thể trạng suy sụp nhanh (80 -90%)
Buồn nôn và ói khi có tắc ruột
2. TCLS:
-Dấu Koenig ở hố chậu: một khối nổi gồ lên làm bn rất đau, kèm theo tiếng hơi di động qua chỗ hẹp à khối từ từ xẹp, bn bớt đau.
-Sờ thấy khối u (tuberculome): chắc di động, không đau.
CẬN LÂM SÀNG
1. Phản ứng lao tố trong da (IDR):
2. X.Quang khung đại tràng có sửa soạn: vùng hồi – manh tràng bị teo hẹp.
3. Nội soi khung đại tràng: Độ chính xác cao – có thể sinh thiết
4. Phương pháp nhuộm cấy phân, tìm BK: BK (+) có giá trị chẩn đoán cao, kết quả rất thấp
5. CT Scan bụng: Dầy mạc treo ruột >15mm, nhiều hạch mạc treo.
Có thể phân biệt được giữa trực khuẩn lao và MAC
M.T: nhiều hạch mạc treo hoại tử và nhiều tổn thương trong nhiều nội tạng
MAC: phì đại nhiều hạch, gan to và lách to.
6. Siêu âm bụng: xác định các tổn thương do lao ở hạch mạc treo và các sang thương hoại tử.
7. Test Elisa chẩn đoán nhiễm HIV kết hợp.
CHUẨN ĐÓAN
Chẩn đoán xác định: BK trong phân hoặc dịch màng bụng (khó chẩn đoán)
Cần dựa vào các yếu tố sau:
-Tìm nguồn lây
-Tìm ổ vi trùng nguyên phát: chụp X.Quang phổi, xương – khớp, tiết niệu - sinh dục, khám hạch…
-X.Quang khung đại tràng
-Nội soi khung đại tràng
-Triệu chứng cơ năng
-CT scan, Siêu âm bụng, chọc dò và sinh thiết màng bụng.
-Phản ứng miễn dịch học để xác định nhiễm HIV.
BIẾN CHỨNG-Tắc ruột: tổn thương mô hạt phát triển bít kín, tổn thương mô xơ làm teo hẹp lòng ruột.
-Thủng manh tràng: gây viêm phúc mạc, rất khó chẩn đoán.
-Dò tiêu hóa: dò từ manh tràng ra các mô xung quang à lao hạch ổ bụng, lao màng bụng, lao bộ phận sinh dục.
ĐIỀU TRỊ
1.Dinh dưỡng: tuyệt đối nghỉ ngơi – ăn uống đầy đủ chất bổ dưỡng, ăn nhiều lần trong ngày.
2.Thuốc kháng lao: REHZ
3.Thuốc kháng viêm: nên dùng thuốc kháng viêm trong 6 tuần lễ à tránh dầy dính và tạo xơ, rút ngắn quá trình diễn biến của bệnh.
4.Điều trị ngoại khoa: khi tắc nghẹt ống tiêu hóa.
5.Điều trị triệu chứng:
-Giảm kích thích niêm mạc ruột
-Điều chỉnh đại tiện, chống táo bón hoặc điều trị tiêu chảy
-Giảm mỡ béo
-Nâng tổng trạng.
__________________
NGUỒN : DIENDANYKHOA.COM

TÊN TIẾNG ANH CỦA MỘT SỐ CHUYÊN NGÀNH

1) Khoa học cơ bản: (basic sciences)
_ Triết học: philosophy
_ Sinh học: biology
_ Thống kê học: statistics
_ Vật lý: physics
_ Xác suất: probability
_ DI truyền học: Genetics

2) Y học cơ sở: (basic medicine)
_ Giải phẫu học: anatomy
_ Sinh lý học: physiology
_ Hóa sinh: biochemistry
_ Mô học: histology
_ Dược lý học: pharmacology
_ Giải phẫu bệnh: anapathology
_ Vi sinh học: microbiology
_ Sinh lý bệnh: pathophysiology
_ Ký sinh trùng: parasitology

3) Cận lâm sàng: (paraclinical)
_ Hình ảnh học: radiology
_ Siêu âm: ultrasonology

4) Lâm sàng: (clinical medicine)
_ Tâm thần học: psychiatrics
_ Tâm lý học: psychology
_ Y học cổ truyền: traditional medicine
_ Ngoại khoa: surgery
_ Vật lý trị liệu: physiotherapy
_ Phục hồi chức năng: rehabilitation
_ Gây mê - hồi sức: anesthesiology & recovery
_ Nhi khoa: pediatrics
_ Huyết học: hematology
_ Mắt: ophthalmology
_ Tiêu hóa học: gastroenterology
_ Sản khoa: obstetrics
_ Ngoại lồng ngực: thoracic surgery
_ Nội khoa: internal medicine
_ Ngoại thần kinh: surgical neurology
_ Lão khoa: geriatrics
_ Ngoại niệu: surgical urology
_ Ung bướu: oncology
_ Tai mũi họng: otorhinolaryngology
_ Tim mạch: cardiology
_ Thẫm mỹ: cosmetics
_ Nội thần kinh: internal neurology
_ Phẫu thuật tạo hình: plastic surgery
_ Da liễu: dermatology
_ Chấn thương - chỉnh hình: traumato – orthopedics
NGUỒN DIENDANYKHOA.COM

Ai biết thêm tên nào nữa thì bổ sung tiếp ha.

LAU RỬA ỐNG NGHE ? BẠN CÓ ĐỂ Ý !

Chiếc ống nghe gắn bó với cuộc đời sinh viên y và khi ra làm sau này . Nhưng bạn có để ý là chiêc ống nghe của chúng ta rất bẩn . Nó được dùng hằng ngày nhưng bạn đã bao giờ làm vệ sinh cho nó chưa ? có 2 cách sau :
1.Dùng cồn 70 độ ,tẩm bông và lau kĩ ống nghe và 02 đầu ống nghe ( phần tiếp xúc với tai )
2.Dùng xà phòng để rửa
          chúc mọi người có những chiếc ống nghe đẹp và....sạch.

6 TRIỆU CHỨNG Y KHOA NGHIÊM TRỌNG

6 Triệu Chứng Y Khoa Nghiêm Trọng Có một số triệu chứng y khoa báo động cho thấy bệnh nhân cần được chăm sóc y tế ngay. Hãy tìm hiểu cách để nhận diện chúng.


Tương tự những chiếc đèn đỏ trên bảng điều khiển, cơ thể gửi các tín hiệu báo động khi có một vấn đề gì nguy hiểm nào đó đang xảy ra. Đau ngực, khó thở, chóng mặt –là một số triệu chứng y khoa thường gặp.




H1- Đau Thắt Ngực




H2- Đau thắt ngực do thiếu máu cơ tim



H3- Khó thở




H4- Chóng mặt

Nhưng còn những vấn đề khác cũng có thể xảy đến như đau nhức, u cục … Khi nào thì chúng là quan trọng, lúc nào thì không? Trong quyển sách “Những Tín Hiệu Báo Động Đỏ của Cơ Thể Bạn” (Your Body's Red Light Warning Signals), Tiến sĩ Y Khoa Neil Shulman, cung cấp một cái nhìn toàn diện “từ đầu đến chân” của cơ thể con người.

Cuốn sách đã liệt kê ra hàng trăm triệu chứng y khoa có ý nghĩa sống còn, hoặc báo động cho những bệnh lý có thể gây ra tàn phế nghiêm trọng.

Shulman, Giáo sư Nội Khoa tại Trường Đại Học Y Khoa Emory ở Atlanta (Mỹ) là tác giả của nhiều đầu sách y khoa và bài báo khoa học.

Có những vấn đề rất nghiêm trọng tựa "những tên khủng bố ẩn nấp trong cơ thể chúng ta," ông nói. Những triệu chứng này "đã giết hại khá nhiều người. Có những nỗi đau đớn và những cái chết khủng khiếp có thể tránh được, nhưng bệnh nhân lại không biết trước được điều gì nguy hiểm đang xảy ra cho họ."

Thật vậy, như vẫn cứ thường xuyên xảy ra, một triệu chứng bị bỏ qua và theo sau đó là một cái chết bi thảm. Hoặc ngược lại, bệnh được phát hiện kịp thời, và một mạng sống được bảo tồn.

Dưới đây là 6 triệu chứng y khoa báo động đỏ mà mọi người cần ghi nhớ:


1. Sút cân và biếng ăn không giải thích được

- Bệnh nhân có thể đang bị một bệnh lý nghiêm trọng.

- "Nếu đang ăn kiêng để giảm béo, thì đó là điều dễ hiểu. Nhưng nếu vẫn đang ăn uống bình thường và bây giờ phải điều chỉnh khóa thắt lưng vào thêm vài nấc, bạn có thể đang gặp một vấn đề nghiêm trọng," Ts Shulman cho biết.

- "Với ung thư buồng trứng, lại là điều trái ngược," ông nói. "Tràn dịch trong ổ bụng khiến bụng to ra và người phụ nữ có cảm giác là mình đang lên cân. Nhưng nếu cân nặng đang ổn định trong nhiều năm, chế độ ăn và tập luyện lại không thay đổi, hãy tìm gặp bác sĩ ngay," ông cho biết.




H5- Sút cân không do ăn kiêng




H6- Ung thư buồng trứng

2. Nói đớ, liệt, yếu, châm chích, đau rát , tê, lú lẫn

- Đó là các triệu chứng của đột quỵ, bệnh nhân cần đến trung tâm cấp cứu chuyên khoa ngay. Điều trị sớm sẽ đề phòng được tổn thương vĩnh viễn ở não và cứu sống người bệnh.

- Nói đớ có thể xảy ra nhưng lại không được chú ý, Ts Shulman cho biết. Tuy thế, bệnh nhân vẫn có thể đang có huyết khối tại mạch máu não hoặc đang xuất huyết não.



H7- Đột quỵ

3. Tiêu phân đen

Tiêu phân đen là dấu hiệu xuất huyết ở đường tiêu hóa trên. Đó có thể là dấu hiệu của xuất huyết do loét dạ dày hoặc tá tràng. Cần tiến hành cầm máu và loại trừ ung thư dạ dày ngay.




H8- Xuất huyết dạ dày do loét

4. Nhức đầu kèm cổ cứng và sốt

- Là chỉ điểm cho viêm màng não, một tình trạng nhiễm trùng nghiêm trọng.

- Bệnh nhân không thể gập cằm xuống ngực được, đó chính là dấu hiệu điển hình của viêm màng não do vi trùng. Cần dùng kháng sinh ngay đễ tiêu diệt vi trùng trước khi chúng kịp xâm lấn vào não gây viêm não và để lại mô sẹo.




H9- Dấu cứng cổ trong viêm màng não




H10- Dấu Kernig để chẩn đoán viêm màng não



Click this bar to view the full image.

H11- Trẻ sống sót sau viêm màng não mủ và nhiễm trùng huyết

5. Cơn đau đầu đột ngột và khủng khiếp

- Dữ dội hơn bất kỳ lần nhức đầu nào trước đó, có thể là triệu chứng của xuất huyết não. Hãy nhanh chóng đến phòng cấp cứu ngay.

- Phình động mạch não là một bệnh hiếm gặp, nhưng vẫn có thể xảy ra ngay cả ở những bệnh nhân dưới 40 tuổi.

- "Nó sẽ gây thảm họa nếu không được điều trị đúng mức," Ts Shulman nhấn mạnh. Khi nhức đầu dữ dội như búa bổ, bệnh nhân có thể bị túi phình động mạch, là một túi nhỏ chứa đầy máu phình ra ở một vị trí yếu của động mạch não. Có thể cứu sống bệnh nhân nếu túi phình được phát hiện và chữa trị sớm trước khi vỡ.


Click this bar to view the full image.

H12- Túi phình động mạch não

6a. Đối với phụ nữ:

Xuất huyết âm đạo sau mãn kinh, đó có thể là dấu hiệu của ung thư.

- Một số phụ nữ thường ít quan tâm khi thấy xuất huyết âm đạo sau mãn kinh. "Số khác lại cho rằng đó chỉ do một vết rách nhỏ, hoặc một điều gì đó ở đường tiểu".

Nhưng xuất huyết sau mãn kinh là một triệu chứng của ung thư tử cung, có thể điều trị tốt nếu được phát hiện sớm.




H13- Ung thư cổ tử cung




H14- Ung thư nội mạc tử cung




H15- Ung thư thân tử cung

6b. Đối với đàn ông:

một khối u ở tinh hoàn có hoặc không kèm theo một hạch nhỏ ở bẹn có thể là triệu chứng nghiêm trọng. Ung thư tinh hoàn thường xày ra ở những người có tật tinh hoàn ẩn.

- Khi tắm, thỉnh thoảng đàn ông nên tự thăm khám tinh hoàn cho mình. Điều này thật đơn giản!

- Nên đi khám ngay nếu phát hiện điều gì đó bất thường ở hai bên tinh hoàn.




H16- Hình ảnh tinh hoàn 2 bên bình thường

Bánh xe khô dầu lên tiếng

- Có một câu châm ngôn rất cổ xưa: “Bánh xe khô dầu cần tự đi kiếm chất bôi trơn”. Điều này rất quan trọng trong y khoa.

- Nếu bạn cảm thấy có điều gì không ổn trong cơ thể của mình, nếu bạn đang có một cơn đau đầu như búa bổ, nhưng bác sĩ lại không xem điều đó là quan trọng thì bạn cần phải đứng lên và có ý kiến của mình.

- Hãy nói với bác sĩ là bạn thấy có một vấn đề bất thường nào đó đang xảy ra: "Tôi mong bác sĩ sẽ loại trừ khả năng bệnh đó," bạn cần nói như thế.

- Nếu họ thoái thác, bạn cần phải nói như sau: "Tôi yêu cầu bác sĩ viết vào bệnh án của tôi là bác sĩ đã từ chối thực hiện xét nghiệm đó."

Bác sĩ cũng là con người; họ có thể bị mệt mỏi và đãng trí.

“Thái độ dứt khoát sẽ khiến họ phải dồn hết sự tập trung vào trường hợp của bạn” .

"Bạn cần phải xem những triệu chứng bất thường đó là quan trọng vì xét cho cùng chính bạn sẽ là người chủ yếu chịu ảnh hưởng về sức khỏe và sự sống còn của mình, chính bạn sẽ là người thương cảm cho bản thân mình nhiều nhất," Ts Shulman nói.

Tất cả những người trưởng thành từ những năm phổ thông trung học trở lên đều phải tập làm quen với các triệu chứng y khoa kinh điển, để tự giữ gìn cho mình một sức khỏe tốt



Albatros biên dịch
Theo Neil Shulman, MD: "Your Body's Red Light Warning Signals"
by Albatros NGUỒN DIENDANYKHOA.COM

Điện thoại di động và sức khỏe

Điện thoại di động là một vật dụng hết sức tiện lợi đến mức trở thành vật bất ly thân của nhiều người. Nhưng nó cũng có thể gây ra những tác hại nghiêm trọng cho sức khỏe.

Lại càng không nên cho trẻ em dùng ĐTDĐ
Khi sử dụng, điện thoại di động sẽ phát ra một loại sóng điện từ truyền đến trạm bức xạ để nhận và phát tín hiệu. Cơ thể con người sẽ hấp thụ loại sóng bức xạ này và nó có thể làm thay đổi cấu trúc một số tế bào cơ thể, gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người.

Độ bức xạ tương đối nhỏ khi điện thoại đang ở trạng thái chờ sử dụng. Nó lớn hơn trong quá trình đàm thoại và đạt độ lớn nhất khi đang phát tín hiệu gọi một máy khác, cao gấp 3 lần độ bức xạ khi máy ở trạng thái chờ sử dụng. 
Theo các chuyên gia, sóng bức xạ của điện thoại di động gây ảnh hưởng đến não lớn nhất, nó có thể tác động lên hệ thống thần kinh trung ương dẫn đến các triệu chứng như đau đầu, mất ngủ, ngủ mê, rụng tóc, có người còn có cảm giác như bị kim châm ở mặt… Sử dụng điện thoại di động thời gian dài có thể làm tăng nguy cơ bị khối u ở não.
Vì vậy, khi sử dụng, bạn nên để điện thoại xa cơ thể, chờ kết nối được mới để vào tai nghe. Không nên dùng di động để buôn chuyện và đặc biệt không để điện thoại cạnh gối khi đi ngủ.

Rất nhiều người thích đeo điện thoại di động trước ngực để tiện sử dụng hoặc coi như một món đồ trang sức. Nhưng nhiều nghiên cứu cho thấy ý thích nói trên sẽ gây ảnh hưởng không tốt cho tim và hệ nội tiết của cơ thể.

Ngay cả khi điện thoại đang ở trạng thái chờ sử dụng, sóng bức xạ tuy nhỏ nhưng cũng gây hại cho cơ thể. Những người bị bệnh về tim mạch càng nên tránh để điện thoại di động treo trước ngực.
Các chuyên gia cho rằng sóng bức xạ điện từ tác động đến nội tiết của cơ thể, gây hiện tượng kinh nguyệt không đều, ảnh hưởng đến sự trao đổi chất của tế bào, làm rối loạn các nguyên tố vi lượng. Điện thoại di động thường có gắn một thiết bị chống nhiễu sóng, có tác dụng làm giảm ảnh hưởng của bức xạ từ đối với cơ thể, các thiết bị chống nhiễu được làm bằng kim loại nặng như chì, nhôm thì hiệu quả càng cao.
Nghiên cứu đã phát hiện rằng số lượng tinh trùng của các đấng mày râu thường xuyên mang điện thoại ở eo lưng và sử dụng điện thoại ít hơn so với người bình thường là 30%. Nguyên do là sóng điện từ sinh ra khi thu phát tín hiệu sẽ bức xạ đến tinh trùng hoặc trứng trong cơ thể, làm ảnh hưởng chức năng sinh sản của người sử dụng.

Một báo cáo thực nghiệm trên chuột ở Anh cho thấy, khi bị bức xạ bởi sóng từ của điện thoại di động trong 5 phút, trong cơ thể chuột đã nảy sinh ADN biến dạng. Trứng hay tinh trùng của người cũng vậy, nếu bị bức xạ từ trong thời gian dài cũng sản sinh các ADN biến dạng.

Vì vậy khi sử dụng điện thoại, bạn nên để tránh xa vùng eo, lưng. Cánh mày râu đặc biệt chú ý không nên nhét điện thoại trong túi quần, vì nó rất gần nhà máy sản xuất tinh trùng và trực tiếp uy hiếp các tinh binh.

Không mang điện thoại trong túi quần, không đeo ở eo, lưng, không để ở gần ngực. Vậy khi đi ra ngoài để điện thoại di động ở đâu đây?
CHẮC TÍNH ĐỂ NHÀ VẬY ? KHI ĐÓ ĐIỆN THOẠI DI ĐÔNG THÁNH ĐIỆN THOẠI ĐỂ BÀN ? HIC  
http://www.congan.com.vn/?mod=detnews&catid=402&id=31695

Tại sao bệnh nhân lại tử vong do gây mê?

Mặc dầu đã có những tiến bộ rất nhiều trong việc hiểu rõ cơ chế tác dụng của các thuốc gây mê, chúng ta vẫn chưa nhận thức được tất cả và tiên lượng chính xác những đáp ứng của bệnh nhân khi tiếp xúc với các độc chất này.


Biểu diễn gây mê bằng ether ở các thế kỷ trước

1- Kiểm soát đường thở


Kiểm soát đường thở là then chốt trong gây mê hồi sức

 Chết não khi bệnh nhân bị thiếu oxy sau 4-6 phút. Lâu hơn nữa sẽ dẫn đến ngưng tim.
 Khi gây mê toàn thân, đường thở được bảo vệ và đảm bảo bằng ống nội khí quản.
 Ngay sau lỗ khí quản là thực quản. Nếu ống nội khí quản đặt sai vào thực quản, oxygen sẽ không vào được phổi, Sau một thời gian ngắn, bệnh nhân sẽ tím tái và ngưng tim.
 Các dụng cụ mới đã giảm rất nhiều nguy cơ đặt sai ống nội khí quản.
 Một vấn đề khác về đường thở có thể dẫn đến thiếu oxy là không đánh giá được những cấu trúc giải phẫu bất thường của bệnh nhân khiến việc đặt nội khí quản khó khăn hoặc không thể thực hiện được.
 Cố gắng đặt nội khí quản nhiều lần sẽ dẫn đến chấn thương đường thở, và nếu không mở khí quản cấp cứu, bệnh nhân sẽ tử vong vì thiếu oxy.


Sensor để kiểm tra SpO2 trong khi gây mê

 Có nhiều dụng cụ mới được phát minh để hỗ trợ trong những tình huống khẩn cấp này bao gồm ống nội soi phế quản bằng sợi quang học và mặt nạ đường thở thanh quản (laryngeal mask airway=LMA). LMA là một dụng cụ mới giúp mở đường hô hấp trên (phía trên khí quản) và giúp thông khí tạm thời trong những tình huống khẩn cấp.



Ống, mặt nạ, bóng dùng cung cấp oxy, thuốc gây mê thể khí, và hoán chuyển khí CO2 trong khi gây mê

 Sặc hít thức ăn từ dạ dày là một nguyên nhân gây tử vong. Tất cả các bệnh nhân có thai, béo phì nặng, nạn nhân chấn thương và bệnh nhân tắc ruột đều có dạ dày đầy thức ăn. Sử dụng các thuốc khởi mê và gây liệt nhanh cùng với động tác đè nhẹ lên cổ sẽ giúp đề phòng thức ăn trào ngược từ dạ dày lên thực quản và giảm sự sặc hít xuống đến mức tối thiểu.

This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 640x480.

Các loại mask dùng trong gây mê

2- Máy giúp thở

Click this bar to view the full image.

Xe chuyên dùng trong gây mê

 Ngoài việc bảo đảm đường thở cho oxy và các khí khác lưu thông, cần hoán chuyển khí để có thể cung cấp oxy và giúp loại trừ dioxide carbon khỏi cơ thể: Máy giúp thở, một dụng cụ cơ học sẽ giúp giải quyết vấn đề này.

3- Đảo Nghịch các thuốc gây liệt cơ

Bệnh nhân sẽ không gặp trở ngại gì trong lúc gây mê nhưng sau đó một thời gian ngắn nếu các thuốc gây liệt sử dụng không được “đảo nghịch"—nghĩa là khử tác dụng của chúng bằng các chất đối kháng, bệnh nhân đang mê sâu hoặc liệt sẽ không tự thở được và bị thiếu oxy.

4- Dùng các thuốc an thần mạnh

Một nguyên nhân nữa gây tử vong thường gặp là việc dùng các thuốc an thần mạnh để bệnh nhân dễ chịu hơn khi thực hiện các thủ thuật “nhỏ”. Đôi khi những thuốc mạnh này lại được sử dụng bởi các nhân viên chưa được đào tạo đến nơi đến chốn và thiếu sự giám sát của bác sĩ chuyên khoa gây mê. Ngoài tác dụng an thần, các thuốc này còn gấy ức chế hô hấp (bệnh nhân ngưng thở) dẫn đến thiếu oxy.

5- Phương Pháp “Giảm đau thức tỉnh”

Một trong những mục tiêu của chương trình giáo dục là các phương pháp “giảm đau thức tỉnh" (concious anesthesia). Nghĩa là giảm đau nhưng chỉ gây thư giãn tâm thần mà không làm mất ý thức. Tuy nhiên, ranh giới giữa 2 tình trạng này rất mơ hồ và liều lượng thuốc sử dụng an toàn cho một bệnh nhân này có thể gây mất ý thức ở một bệnh nhân khác.


Kiểm tra sát các thông số trong thời gian gây mê

6- Tràn Khí Màng Phổi

 Trong một số trường hợp, máy thở có thể hoạt động sai lệch và không cung cấp các khí thở một cách thích hợp.
 Tăng áp lực trong 2 phổi sẽ làm rách phổi (tràn khí màng phổi). Áp suất này có thể tiếp tục gia tăng ngoài phổi đè ép lên các mạch máu có chức năng đưa máu trở về tim, do đó làm giảm cung lượng tim (tràn khí màng phổi áp lực dương). Bệnh nhân có thể diễn tiến đến tử vong trừ phi phát hiện được tràn khí màng phổi và đặt ống dẫn lưu giảm áp qua thành ngực.
 Tràn khí màng phổi không phải lúc nào cũng được chẩn đoán dễ dàng . Bệnh nhân bị chấn thương là những người có nguy cơ tràn khí màng phổi cao nhất. Các nguyên nhân khác có thể là do chọc thủng màng phổi khi đâm kim vào các mạch máu lớn để tạo đường truyền tĩnh mạch- thường là tĩnh mạch dưới đòn hoặc tĩnh mạch cảnh trong.


Chuyên gia gây mê phải luôn thận trọng và cảnh giác cao độ khi làm việc vì các sự cố diễn ra rất nhanh.

7- Hệ Tuần Hoàn:

 Tim bơm máu đi khắp cơ thể. Khi tim ngừng đập, các cơ quan trong cơ thể không nhận được máu và oxygen.
 Bệnh nhân thường xuất huyết trong khi phẫu thuật và bác sĩ gây mê cần phải bù đầy đủ máu và dịch bị mất. Bác sĩ gây mê cần phải tiên lượng được phẫu thuật nào có thể gây mất máu và dịch nhiều để dự trù máu và đặt trước đường truyền tĩnh mạch .
 Hệ tuần hoàn có thể ngừng hoạt động dưới tác dụng của nhiều loại thuốc gây mê. Các chất này đều gây độc ở những nồng độ hơi cao hơn chút ít so với nồng độ gây mê.
 Dùng quá liều thuốc gây mê thể khí và thuốc gây mê tĩnh mạch sẽ làm tim ngừng đập. Mỗi bệnh nhân đều có những đáp ứng hơi khác nhau đối với thuốc gây mê
 Một liều “trung bình” thuốc gây mê có thể gây ra sự cố ở những tình huống đặc biệt, như trong những trường hợp bệnh nhân bệnh nặng hoặc giảm thể tích máu. Bác sĩ gây mê cần nắm vững và nhận diện được những vấn đề này khi chúng xảy ra.

8- Phản Ứng Dị Ứng

 Phản ứng dị ứng thuốc thường đe doạ tính mạng. May thay, các thuốc gây mê thể khí không gây phản ứng dị ứng. Các thuốc gây dị ứng làm tụt huyết áp đáng kể, thở khò khè dẫn đến mất khả năng tự thở và thường là các thuốc dùng phối hợp với thuốc mê, như các thuốc dãn cơ (tác nhân gây liệt), các thuốc gây mê tĩnh mạch, và các kháng sinh
 Latex cũng có thể gây ra các phản ứng dị ứng đe doạ đến tính mạng. Găng tay Latex có thể dẫn đến phản ứng dị ứng khi phẫu thuật viên đưa tay vào cơ thể người bệnh.
 Các bước điều trị sốc phản vệ đã được biết rõ, nhưng vấn đề là phải điều trị nhanh chóng với liều lượng đầy đủ


Monitor theo dõi nhịp tim, huyết áp, nhịp thở trong khi gây mê

9- Tăng Thân Nhiệt Ác Tính (Malignant Hyperthermia=MH)


Thỉnh thoảng xuất hiện một bệnh nhân sốt cao, nhịp tim tăng, cứng cơ và tử vong trong khi gây mê. Khi điều tra, nhận thấy vấn đề này thuộc về di truyền theo kiểu cách có thể dự báo trước được và là hậu quả của một khiếm khuyết trong chuyển hoá của cơ vân khi tiếp xúc với một số thuốc gây mê toàn thân và một thuốc gây liệt
Rối loạn này được gọi là Tăng thân nhiệt ác tính do tỉ lệ tử vong là 80% ở bệnh nhân bị bệnh. Tăng thân nhiệt ác tính (MH) xảy ra ở khoảng 1/10.000 đến 1/50.000 các trường hợp dùng thuốc gây mê. Các nghiên cứu cho thấy rằng bệnh nhân thường không có dấu hiệu bên ngoài bất thường nào ở các cơ và các cơ quan khác cả.
 Những năm cuối thập niên 1970, phát hiện một thuốc kháng độc là dantrolene sodium
 Hiện nay tử vong và tàn phế ít khi xảy ra do tăng thân nhiệt ác tính, có thể chỉ ở 5% các trường hợp. Ngoài ra, nếu cơ sở y tế dự trữ dantrolene và bác sĩ gây mê nắm vững các triệu chứng, tỉ lệ tử vong có thể xuống đến 0%
 Khi chú trọng đến việc giảm chi phí điều trị, nhiều phẫu thuật sẽ được thực hiện ở các phòng khám và trung tâm điều trị ngoại trú. Nhiều cơ sở trong số này chưa được chuẩn bị để đối phó với tăng thân nhiệt ác tính (MH) do dantrolene được đánh giá là quá đắt!
 Có ít nhất 400 trường hợp (MH) xảy ra mỗi năm ở Mỹ, gây tử vong cho ít nhất 2-3 bệnh nhân trẻ và khoẻ mạnh.
 Xét nghiệm để phát hiện tăng thân nhiệt ác tính (MH) được thực hiện bằng cách sinh thiết cơ. Xét nghiệm này được làm tại 9 trung tâm ở Mỹ, bao gồm Đại Học Thomas Jefferson University.

10- Các bệnh lý về cơ khác

 Trong những năm đầu thập niên 1990, MHAUS nhận thấy có những báo cáo về tử vong khi thực hiện các phẫu thuật nhỏ ở những bệnh nhi trẻ, bề ngoài khoẻ mạnh. Các điều tra về sau này cho thấy các trẻ này đều bị loạn dưỡng cơ (muscular dystrophy), nhưng chưa xuất hiện triệu chứng. Trong trường hợp này, tử vong xảy ra do tăng potassium khi sử dụng thuốc gây liệt cơ succinylcholine. Potassium tăng cao sẽ làm tim ngừng đập. Điều này dẫn đến sửa đổi trong hướng dẫn sử dụng của thuốc: tránh việc dùng thường quy succinylcholine ở trẻ em.

11- Tăng Potassium sau khi sử dụng Succinylcholine

 Ngoài những bệnh nhân bị bệnh lý về cơ, có thể có tăng potassium khả năng dẫn đến tử vong sau khi dùng succinylcholine ở các nạn nhân bị phỏng, bị chấn thương, bị tổn thương tuỷ sống . Điều ít được nhận biết là hiện tượng này có thể xảy ra nhiều tuần sau chấn thương ở những bệnh nhân nằm bất động.

12- Thuốc Gây Tê Tại Chỗ

 Các thuốc gây tê tại chỗ được phát hiện cách đây 100 năm. Đó là các thuốc có gốc "caine", novocaine, bupivicaine, v.v. Các thuốc này dùng tiêm chích hoặc thoa ngoài (ví dụ, kem bôi trĩ) để gây tê. Các thuốc gây tê tại chỗ thường xuyên được dùng bởi các bác sĩ chuyên khoa gây mê hoặc bác sĩ không chuyên khoa.
Nếu thuốc gây tê tại chỗ được tiêm vào mạch máu với lượng nhiều, bệnh nhân có thể bị co giật và ngừng tim. Các chuyên gia gây mê hiểu rất rõ về vấn đề này vì họ thường dùng các thuốc này để gây tê tuỷ sống, gây tê ngoài màng cứng và một số thủ thuật phong bế thần kinh. Chẩn đoán và cấp cứu nhanh chóng sẽ tránh được tử vong.


Gây mê toàn thân, gây mê từng vùng và phong bế thần kinh ngoại biên


Phương pháp gây tê tuỷ sống

 Tuy nhiên, đôi khi bác sĩ phẫu thuật, bác sĩ chuyên khoa tiêu hoá, hoặc chuyên khoa da liễu có để đánh giá không đầy đủ về độc tính của các thuốc này và không được chuẩn bị để đối phó với các biến chứng. Ví dụ, một kỹ thuật hút mỡ đã sử dụng một lượng lớn chất gây tê tại chỗ pha loãng tiêm dưới da. Nếu thuốc được hấp thu quá nhanh hoặc dùng nồng độ thuốc quá cao, ngộ độc sẽ có thể xảy ra. Nhiều trường hợp tử vong đã được báo cáo gần đây về vấn đề này.


Bộ dụng cụ dùng để gây tê tuỷ sống


13- Những vấn đề về máy móc

 Trong 75 năm qua, các máy gây mê đã được cải tiến rất nhiều nên các trục trặc về máy móc gây tử vong trong gây mê là nguyên nhân rất hiếm gặp. Một danh sách kiểm tra cần phải được người sử dụng tuân thủ thực hiện trước khi vận hành máy móc. Việc kiểm tra này sẽ giúp phát hiện hầu hết tất cả các vấn đề về máy móc.

14- Yếu Tố Con Người

 Gây mê hiện đại bao gồm nhiều vấn đề hơn là việc đơn thuần dùng thuốc . Chuyên gia gây mê cần phải tiên lượng và phản ứng nhạy bén với những thay đổi do tình trạng phẫu thuật và những diễn biến xảy ra do đáp ứng thuốc men ở từng người bệnh. Bác sĩ chuyên khoa gây mê và các chuyên viên gây mê cần được huấn luyện thật tốt.
 Sự chú ý và thận trọng luôn là cần thiết ngay cả trong những trường hợp tưởng chừng như đơn giản nhất, bởi vì có thể có những vấn đề không lường trước được xảy ra ở bất kỳ thời điểm nào. Mệt mỏi, stress, thiếu ngủ sẽ khiến phản ứng trở nên chậm chạp đối với các tình huống khẩn cấp. Vai trò của những yếu tố con người trong rủi ro do gây mê còn chưa được hiểu biết đầy đủ.



Albatros
Tham Khảo:
Mortality Associated with Anesthesia
By Henry Rosenberg, M.D., Professor of Anesthesiology, Thomas Jefferson University
NGUỒN : DIENDANYKHOA.COM

Những câu nói bất hủ của sinh viên

1. Hồn nhiên như con điên.
2. Già như trái cà
3. Đuối như trái chuối
4. Thơ ngây như làn mây.
5. Sành điệu như củ kiệu

6. Ngây thơ như bò đeo nơ.
7. Hãy cho tôi một điểm tựa…tôi đuối quá!!!
8. Ngu như con cóc,ngốc như con milu.
9. Mập đẹp, ốm dễ thương,cao sang,lùn quý phái,bình thường thấy ghê.
10. Thà nhịn đói chứ không nhịn nói.

11. Muốn nhanh thì cứ phải từ từ.
12. Luôn luôn lắng nghe lâu lâu mới hiểu.
13. Chuẩn không cần chỉnh.
14. Thà chết chứ không chịu hy sinh
15. Tôi từng có nhiều ham muốn.Ham muốn nhất bây giờ là bỏ được các ham muốn khác

16. Cao nhân tắt thở vô phương trị.
17. Xấu mà biết phấn đấu.
18. Xấu xấu nhưng kết cấu nó hài hoà.
19. Nhìn vào tấm gương sáng,rọi vào đó mới thấy thân xác hoang tàn… nhưng đẹp trai.
20. Có tiền thì đi xe hơi uống bia ôm,hết tiền thì đi xe ôm uống bia hơi.

21. Thứ 7 máu chảy về tim,lim dim đi tìm chỗ ngủ.
22. Đừng tự hào vì nghèo mà học giỏi,Hãy tự hỏi vì sao giỏi mà vẫn nghèo.
23. Dân thường chơi đẹp, đè bẹp dân chơi
24. Tắt điện sản xuất….tương lai.
25. Chả biết gì về điệm mà đòi xài cầu chì.

26. Sống đơn giản cho đời thanh thản.Cứ hồn nhiên rồi sẽ bình yên
27. Tôi yêu Việt Nam “đồng”
28. Nhớ đến em anh vững vàng tay lái.Nhớ đến mẹ anh nhẹ nhàng tay ga
28'. An toàn là bạn …tai nạn là …vào hòm.
29. Số lượng gái cua được tỉ lệ thuận với dung tích xilanh xe bạn chạy.

30. " Khi tôi ăn cơm...Cả quán dõi theo từng động tác.Tự Tin -Gắp Nhanh - Phong Cách. Tôi thích cơm bụi.Cơm bụi rất lôi cuốn.Lôi cuốnlà phải ăn nhanh.Ăn nhanh là sạch sẽ. Tôi là...Sinh Viên Nghèo!!!! "
Em muốn lấy anh khí tượng thủy văn…… nhưng người đâu… toàn tính chuyện mây mưa. Em muốn lấy anh đầu bếp……. nhưng anh ấy……… hay đòi nêm nếm trước.
Em muốn lấy anh thuế vụ …..nhưng anh ấy ………hay đòi xuống đòi lên.
Em không chê anh bán vé số nghèo hèn…….. nhưng sợ anh ………hay cào hay bóc.
Em muốn làm vợ anh uốn tóc …….nhưng ngán bị …….đè cổ đè đầu.
Em tính chọn kho bạc làm dâu ……..nhưng sợ anh hay……….. săm soi thiệt giả….

==> Vậy em lấy anh IT đê, ảnh chỉ biết sờ, ngắm ….và cắm USB
32.